Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011


GIA PHẢ HỌ HOÀNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO

          Hai cụ Hoàng - Thúc - Hội và Hoàng - Tất - Đạt, khi biên soạn quyển gia phả họ Hoàng này, dựa chủ yếu vào các bản phả cũ và tham khảo cả quốc sử lẫn bản chép các vị đăng khoa qua các triều đại, cũng như bản chép các vị đăng khoa của huyện Từ Liêm, quyển “Bạch - liên Khảo Chí” (sách chép các chuyện và nhân vật đỗ đạt ở làng Hạ Yên Quyết, do cụ Nguyễn Văn Địch người làng Cót biên soạn) và các truyền thuyết lưu truyền trong họ ngoài làng. Về các phả cũ các cụ chỉ nói đến qua các sự kiện biên chép trong phả, chứ không nói rõ sử dụng như thế nào và các tài liệu ấy sau khi dùng thì để ở đâu, còn hay mất hiện nay.
          Dựa vào các sự kiện nói đến trong phả này thì các phả cũ như sau :
1. Bản phả cũ do cụ Hoàng Miễn Thiệu (hiệu Phúc Miên), đời thứ bẩy, con cả cụ Thị lang Hoàng - Bồi, sống hồi cuối Mạc đầu Lê Trung Hưng.
2. Phả cũ đời Cảnh hưng (Lê Hiển Tông), không rõ ai viết, giữa thế kỷ 18.
3. Bản của cụ Hoàng - Thì - Bình, tức cụ Đốc Trực - Hiên, làm quan đời Gia Long và Minh Mạng (từ 1810 trở đi ,đời thứ 12).
4. Bản của cụ Hoàng Khắc Nhượng, hiệu là Đôn - Cẩn, hàng đời thứ 13 (chắc khoảng đầu thế kỷ 19).


Gia phả họ Hoàng
Làng Yên Quyết - Tỉnh Hà Đông
Mùa thu năm Quý Mão (1904)
Cháu mười lăm đời
Cử nhân : Hoàng Thúc Hội
Huấn đạo : Hoàng Tất Đạt cùng biên bằng chữ Hán.
Mùa đông năm Tân Mùi (1931) dịch ra quốc ngữ
Người dịch : Cháu mười sáu đời : Hoàng Thúc Trâm
TỰA
          Họ ta từ cụ Thượng thư  trở  lên, lưu lạc mất sự tích, không biết dòng dõi ra sao cả. Vậy nay chép từ cụ Thượng trơ về sau , theo thế thứ, kể công chuyện để làm của báu một nhà, khiến người đời sau biết rõ cội gốc.
1. Sau khi cụ Hoàng Tất Đạt mất tháng Hai năm Canh Tuất (1910), cụ Hoàng Thúc Hội biên tiếp một mình. Đến cuối năm Tân Mùi (1931) thì làm xong.
2. Cụ Hoàng Thúc Hội và cụ Hoàng Tất Đạt đều có một bài cảm khái nói về họ mình bằng chữ Hán : Bài cổ văn của cụ trước, bài đường luật tám câu của cụ sau Hoàng Thúc Tấn phiên âm và dịch ra Việt Văn phiên âm và dịch tháng Giêng 1975.
Bài cổ văn chữ Hán
Phiên âm
          Minh đức giã viễn hĩ, tự cổ tích tiên dân. Bất hiển diệc thế, ái nhiên ! khái nhiên ! kỳ kiến văn. Dương tuấn liệt, tụng thanh phân, hưu hoa kỳ kế : tại ngã hậu chi phân.
(Hoàng Thúc Hội bái đề)
Dịch nghĩa :
          Đức sáng có đã lâu, từ các tổ tiên xa xưa. Dù (cụ nào) không có công danh thì cũng là một đời người, (chúng ta) trạnh niềm cảm khái, như mắt thấy, tai nghe các cụ. Nếu việc tốt kể điều hay (của tổ tiên) và nối tiếp làm hay tốt hơn nữa : đó là bổn phận của kẻ sau chúng ta.

Dịch sang Việt - Văn
Tổ tiên đức cả sâu giầy
Dù không hiển đạt cũng đời nhân sinh
Trạnh niềm mường tượng tiên linh
Như dường mắt thấy, như hình tai hay
Tổ tôn sự nghiệp xưa nay
Biểu dương việc tốt, phô bày điều thơm
Lại làm tăng sắc thêm hương
Là phần con cháu đẩm đương sau này.

Bài thơ tám câu đường luật chữ Hán
Phiên âm : Hữu vi chi hậu thục khái tiên
                   Kế kế thừa thừa ngũ bách niên
                   Dịch thế trâm anh giai cựu đức
                   Nhất môn kinh sử thị lương điền
                   Tức kim hương bảng liên niên thủ
                   Công đạo Hoàng gia thập ngũ truyền
                   Tu thức tổ tông bài thực địa
                   Trần triều Quang Thái lục niên tiền
(Hoàng Tất Đạt bái đề)
Dịch nghĩa :
          Sau khi đã làm nên, có biết ai đã mở đường trước không ? Đó là sư nghiệp tổ tiên truyền lại, con cháu nối theo trong năm đấy. Nối đời được ban áo mũ là do phúc đức của tiền nhân cả, và cả họ đều nấu sử sôi kinh ấy là có những ruộng nương tốt đấy. Ngay hiện nay họ ta hàng năm có người đỗ hương bảng, cho nên người ta khen là họ Hoàng đã khá giả mười lăm đời rồi. Vậy chúng ta phải biết việc tô tượng, trồng cây gây giống từ bao giờ : ấy là từ đời Trần, niên hiệu Quang Thái năm thứ sáu đấy (1393).

Dịch sang Việt Văn
                             Mở mặt mở mày hỏi bởi đâu ?
                             Năm trăm năm đấy trước truyền sau
                             Nối đời áo mũ, do công trước
                             Cả họ bút nghiên, ấy ruộng màu
                             Nay vẫn tên quen hương bảng đó :
                             Mười lăm đời rõ Hoàng gia đây
                             Đất ươm biết chốn ông cha đắp :
                             Quang Thái sáu năm những bây rày.

Khảo về ngôi mộ Đò Ó
          Ngôi mộ ở Đò Ó (1) là đất phát trúc của họ ta. Tương truyền rằng mộ đó do một thầy Địa (2) trong làng làm đất. Khi họ ta phát đất rồi vẫn chưa biết đến. Bấy giờ chợt có ông Tả Ao ngồi nghỉ ở đấy, cởi áo bắt rận mà tự nói rằng : “Ngôi mộ này kết, không biết của nhà ai mà lại để long lở làm vậy” ? Họ ta thấy thế, bèn rủ nhau ra giữ lấy.
          Xét bản phả cũ làm bởi cụ Hoàng Khắc Nhượng (hiệu là Đôn Cẩn) thấy có chép rằng : “Tiền quan viên phụ Hoàng tướng công” (một đời trước cụ Thượng). Ở dưới lại chua rằng : “Sinh ra cụ Thượng, mộ ở Đò Ó”. Vì vậy họ ta tậu đứt lấy thửa ruộng ấy (3) để làm nơi Tổ Mộ trang nghiêm. Còn như niên hiệu và hành trang cụ sinh ra  cụ Thượng như thế nào, không thấy chép rõ.
          Có lẽ đó là một sự truyền văn, cụ Khắc Nhượng nghe biết thế nào thì chép thế ấy, chứ không có bằng cứ đích xác. Bằng không thì sao một cụ sinh ra một vị Thượng Thư, há lại không có phẩm chật được phong mà phải kêu là cha một ông quan (Quan viên phụ).
          Đời xa, người khuất, nào biết kê cứu vào đâu ? Vậy hàng năm họ ta tế nhà thờ, cứ lấy cụ Thượng làm thuỷ tổ, còn đối với ngôi mộ Đò Ó thì chỉ biết là mộ cụ sinh ra cụ Thượng mà thôi.
          Nay chép ra đây, để tỏ cái ý nước có nguồn, cây có gốc.
(1) Tên một xứ đồng của làng ta.
(2) Không rõ tên họ là gì.
(3) Thửa ruộng này tậu từ ngày 9 tháng 2 năm Nhân Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 nhà Lê.

Khảo về lễ tế nhà thờ họ
          Lễ tế chạp của họ ta bắt đầu làm từ ngày mồng ba tháng chạp năm Mậu Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1749), đời vua Hiển Tôn nhà Lê (1). Bấy giờ cháu mười đời là cụ Sinh Đồ Hoàng Trọng Thuật (2), cháu mười một đời là cụ giám sinh Hoàng Đăng Bảng cụ Sinh Đồ Hoàng Viết Cung và cụ Hoàng Thời Tự cùng đem mọi người trong họ ra tế ở ngoài mộ (3). Từ đó đến năm Thành Thái thứ mười một (1900), trải 151 năm, vẫn cứ theo lệ mà làm lễ tế (4). Đến năm Kỷ Mùi (1918) ông Hoàng Thúc Hội bàn cùng các tôn trưởng trong họ, đặt thêm một kỳ xuân tế, nhằm ngày mồng hai tháng hai. Còn ngày mồng hai tháng Chạp thì vẫn cứ giữ làm kỳ đông tế. Một họ xum vầy, nghìn thu hương lửa, cái ý vun gốc nhớ nguồn, cũng sâu xa thay !
(1) Theo bản phả cũ của cụ Khắc Nhượng (tức Đôn Cẩn)
(2) Theo như bản phả cụ Đốc Trực Hiên, thì lại nói là cháu mười một đời cả. Nhưng đây theo bản phả của cụ Khắc Nhượng, vì cụ Khắc Nhượng còn ở trên cụ Đốc nhiều, thì có lẽ biết đúng hơn.
          (Không biết về tuổi thì cụ Trực Hiên với Khắc Nhượng ai hơn ? Nhưng về vai họ thì cụ Trực Hiên là chú (hàng đời thứ 12) con cụ Khắc Nhượng là cháu (hàng đời thứ 13). Vậy đoạn nhận xét này có thể nhầm (H.T.T)
(3) Theo bản phả cũ làm từ đời Cảnh Hưng.
(4) Không rõ từ đời nào đổi làm ngày mồng hai tháng mười hai.
Có thể :
          Cụ Thuật đại diện nhành út đồng Hạ                       10
          Cụ Dăng Bàng đại diện nhành thứ đồng Hạ             11
          Cụ Việt Cung đại diện nhành Trưởng đồng Hạ        11
          Cụ Thời Tự (hay Thời Dự) tiền khi đời                             13

Khảo về nhà thờ
          Chi trưởng Tiền Nhất của họ ta suy tàn đã lâu, cho nên chỗ cúng chưa có nơi nhất định. Xưa kia khi hàng năm cứ làm lễ tế ở ngoài mộ. Mãi đến năm Tân Sửu, Thiệu Trị nguyên niên (1841) cụ Đốc Trực Hiên mới cùng mọi người trong họ, đứng lên làm ba gian nhà thờ bằng ngói ở trong làng (1). Từ đấy trở đi, mới có nơi để cúng tế.
          Đến năm Ất Mão, niên hiệu Tự Đức thứ Tám (1854), cụ Huấn Khắc Trai lại thiên ra Láng Đồng (tức xóm Trại) mà làm rộng thêm (2).
          Đến năm Đinh Dậu, niên hiệu Thành Thái thứ 9 (1898), cháu mười lăm đời là cử nhân Hoàng Tất Đạt, Tri huyện Hoang Xuân Hanh và các cháu mười sáu đời là Tri huyện Hoàng Tài hiệp cùng các tôn trưởng trong họ, sửa chữa lại. Tuy hẹp kém trước, nhưng có phần đẹp đẽ hơn nhiều (3).
          Năm Ất Mão (1914) vỡ đê Mạc Xá, sông lở cát bay, tường siêu ngói sụt, trong họ phải bàn định cách tu bổ. Ai nấy cho rằng chỗ ấy đất thấp, đường thì khó đi, không tiện cho cho cháu lui tới chiêm bái. Họ bèn nói với ông Hoàng Thúc Hội, xin đổi lấy miếng đất của ông ở giữa làng để làm nhà thờ, vì đường xá thích trung, con cháu đi lại tiện lợi.
          Đến năm Canh Thân (1919) cả họ đứng lên, kẻ góp công, người góp của, dời nhà thờ vào giữa làng, làm trên miếng đất của ông Hoàng Thúc Hội đổi lại miếng đất nhà thờ cũ ở xóm trại cho ông (4).

          Xuân thu tế lễ, con cháu hương hoa, thật là một chỗ kỷ niệm tôn tổ rất xứng đáng. Còn như mỗi ngày làm thêm quang rạng, trách nhiệm là người đời sau.
(1) Miếng đất làm nhà thờ đó là do cụ Đốc Trực Hiên cúng tiền, tức là nhà Hoàng Duyên ở bây giờ.
(2) Làm ba gian chánh tẩm ở trong, ba gian bán mái ở ngoài bây giờ làm thêm thành năm gian. Miếng đất ấy do cụ Huấn Khắc Trai cúng tiền. Các vi ký kỵ hợp tự ở hai bên tả hữu là bắt đầu từ đây.
(3) Ba gian chánh tâm trước  làm chuôi vồ, bây giờ giữa làm cô diêm. Còn tiền đường thì vẫn cứ để theo như lối cũ. Bắt đầu khởi công từ mồng ba tháng hai đến ngày 24 tháng ba thì hoàn thành. Cụ Hoàng Than giữ tiền mua bán, ông Hoàng Thúc Hội vẽ kiểu, đốc công. Sổ cúng tiền hiện vẫn còn cả.
(4) Làm theo mẫu cũ, nhưng tô điểm trang hoàng thêm nhiều.

Khảo về đật sử
          Xét phả cũ, thấy có chép rằng : ở dưới đời thứ ba là cụ Chỉ Huy, hiệu Đoan Trung có cháu gọi bằng ông bác (chú) đỗ Tiến sĩ Triều Lê, làm quan đô hộ.
          Nay xét bản “Đăng khoa lục” Triều Lê, tính không có ai là họ Hoàng ở làng Yên Quyết mà đỗ Tiến sĩ cả. Nhưng ở làng Thượng Yên Quyết (nay đổi là Yên Hoà) thì có một cụ Hoàng Nhất Ai đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất năm thứ năm đời Lê Cung Hoàng. Tương truyền rằng đó là người họ ta lên ở tại làng đó (1). Nay xét theo thế đại, thì có lẽ cụ Đô Hộ là cháu họ ba đời Cụ Chỉ Huy Đoan Trung, mà là cháu năm đời cụ Thượng Thư vậy. Nay theo bản Đăng khoa lục chép mà tính xuôi từ khoa Quý Dậu niên hiệu Quang Thái nhà Trần xuống đến khoa Bính Tuất niên hiệu Thông Nguyên thứ năm đời Lê cung Hoàng, cộng được 138 năm. Cứ tính 30 năm là một đời, thì cái khoa cụ Đô Hộ đó chính nhằm với thế đại chép ở trong phả họ  nhà. Lại cứ theo như đấy chép, thì cụ Đô Hộ ngang hàng với cụ Tham Chính hiệu là Trực Tín, mà là hàng cha cụ Thị Lang hiệu là An Nghĩa, thế là từ cụ nọ đến cụ kia, cách nhau ba đời vậy. Lại xét bản Đăng khoa Lục, tính ngược từ khoa Mậu Thìn niên hiệu Sùng Khang nhà Mạc trở lên cho đến khoa Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên nhà Lê, được 42 năm, thì thế đại và số năm cũng đúng nhau. Vậy cụ Đô Hộ tức là cụ Hoàng Nhật Ái không còn phải ngờ nữa. Nhưng đối chiếu trong phả chép cụ làm quan đến Đô Hộ với Đăng khoa lục chép cụ làm Hàn Lâm thì thật khác nhau. Nay xét lời chua trong Việt Sử, Lịch triều hiến chương và Lê quan chế đều không có chức gì gọi là đô hộ cả. Vậy không biết ra thế nào, thật khó hiểu được.
          Hiện nay dòng dõi cụ tuy còn ở làng Thượng Yên Quyết, nhưng con cháu sau, hiện đã đổi làm họ Đỗ. Thời cụ Đốc Trực Hiên, những khi dỗ chạp nhà thờ, mọi người ở làng Thượng như Đỗ Hoàng Thư và Đỗ Hoàng Sáu vẫn còn đóng góp cả.
          Khoảng năm Thành Thái, họ ta chữa nhà thờ, họ Đỗ Hoàng ấy cũng có cúng tiền. Hỏi đến gia phả, thì họ nói mất đã lâu, danh hiệu và hành trạng các Cụ trên đó thế nào không biết khảo xét vào đâu được.
          Nay theo y như phả cũ, hàng năm tế nhà thờ cứ viết văn tế rằng : “Tiền Lê Triều đệ tam giáp Tiến sĩ, sĩ chí Đô Hộ, Hoàng Tướng Công phụ tự (2)’’
-----------------------------
(1) Bản phả cụ Đốc Trực Hiên cũng nói giống thế.
(2) Bắt đầu từ ngày làm lễ khánh thành nhà thờ hồi ngày 24 tháng ba năm Thành Thái thứ chín (1898)

Sửa lại đôi điều thiếu sót trong việc thờ cúng
          Trước kia, khi họ ta còn tế ở ngoài mộ, chỉ chuyên thờ có cụ Thượng Thư mà thôi. Còn cụ Thị Lang cũng đứng vào hàng thờ phụ (1).
          Đến  khi làm xong nhà thờ, mới tôn cụ Thượng Thư làm Thái Tổ, cụ Thị Lang làm Thiếu tổ. Các cụ Liêm Thận, Tinh Linh, Chính Nghĩa, Tây Côn, Thái Lĩnh, Trực Hiên, Khắc Trai, vì có công đức đều được thăng lên thờ phụ (2). Còn các cụ trong họ hễ ai có đức vọng cũng được tòng tự ở gian giữa cả. Việc thờ cúng như thế kể cũng đã rõ ràng và đẩy đủ rồi.
          Xong nay xét sổ ký kỵ của giáp Đồng Hạ, trong tờ giao kèo của Hoàng Thị Khiếu, mà cuối tờ đó có tên ký của người em ruột Thị Khiếu là Hoàng Hữu Nghi (3), vào năm Lê Cảnh Hưng thứ 24,  và xét trong sổ họ ta cúng tiền làm quạt và hồi năm Kỷ Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40 (4), thấy đều chép đến những cụ : Sinh đồ Hoàng Thời Hiệp, Hoàng Hồng (nhà ở tại làng Nghĩa Đô) và Sinh đồ Hoàng Bá Hoàn (5). Ôi ! Mấy cụ đó đều là những bậc tiền hiền trong khoa bảng, chỉ vì gia phả  các chi thất lạc, đến nỗi chưa được tòng tự vào nhà thờ, thật là một điều
khiếm khuyết  đáng tiếc. Vậy nay xin thờ cả vào gian giữa, ngõ hầu mới được êm vậy.

--------------------
(1) Bản chi đặt ngày mồng 3 tháng chạp làm lễ chạp ở nhà thờ trưởng chi là ông Huyện Hoàng Tài.
(2) Bốn cụ như : Liêm Thân, Tinh Linh, Chính Nghĩa, Tây Côn, bắt đầu đặt ra lễ chạp. Cụ Thái - Lĩnh đến Kinh công thửa tàn tán cúng tiến nhà thờ. Cụ Trực Hiên và cụ Khác Trai có công làm nhà thờ. Về việc họ ta thăng các cụ đó lên phụ tổ hiện đã chép rõ ở trong phả cũ.
(3) Ở bản phả cũ, chính tay cụ Tú Tài Hoàng Bật Trai có chua : “Các cụ già trong họ tương truyền rằng : Về dòng chi Tiền nhất còn có một cụ sinh đồ tên là Nghi”. Có lẽ cụ Nghi đó tức là cụ Hoàng Hữu Nghi này, cùng âm mà viết khác chăng.
(4) Xin coi bản phả Đôn Cẩn.
(5) Tức là chi phái nhà Hoàng Hân bây giờ.

ĐỜI THỨ NHẤT(SỐ 1)
          Cụ Thái Tổ làm quan Thượng Thư đời Trần, cụ họ Hoàng tên là Quán Chi (1), tự là cỗi rễ ở tại làng Hạ Yên Quyết (2), huyện Từ Liêm, Phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (3).
          Năm Quý Dậu, niên hiệu Quang Thái thứ sáu (1393) đời vua Thuận Tông nhà Trần, Cụ đi thi khoa Thái Học sinh (4), được đỗ đầu (5) làm quan đến Thẩm hình Viện, Hình Bộ Thượng Thư, tặng phong làm Lễ Bộ Thượng Thư rồi được về hưu (6). Cụ mất ngày mồng 9 tháng mười một (7), tên thuỵ là......... thọ.......... tuổi, táng ở xứ Thiên Tôn (8).

------------------------------
(1) Bản phả cũ nói tên tự cụ là Quán Chi. Nay theo bản Đăng khoa lục chép tên cụ là Quán Chi, vậy xin đổi lại cho đúng.
(2) Tương truyền rằng : khi mới lập ra làng ta, chỉ có bốn họ là : Nguyễn, Hoàng, Quản, Doãn. Làng ta tục gọi là làng Cót, tức là một trong bốn làng quý ở huyện Từ Liêm : Mỗ, La, Canh, Cót.
(3) Năm Minh Mạng thứ 12 (1832) đổi huyện Từ Liêm thuộc về phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Sau lại đổi thuộc về tỉnh Hà Đông. Từ năm 19     đổi thành thôn Hạ Yên Quyết, xã Yên Hoà, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội.
(4) Tức là khoa thi Tiến sĩ (Việt sử thông giám)
(5) Trong bộ Việt sử bản kỷ có chép : Tháng hai năm Quý Dâụ niên hiệu Quang Thái thứ sáu, mở khoa Thái học sinh, có ba mươi người trúng tuyển : Hoàng Quán Chi, Mai Tú Phủ, Đông Thức v.v... Bản phả cũ chép cụ đỗ Bảng Nhãn, nhưng nay xét ra từ khoa Đinh Mùi đời Trần Thái Tôn thứ 16, đã có khoa này để kén lấy tam khôi rồi.
(Đoạn chú thích này hơi tối nghĩa. Ý nghĩa có lẽ như thế này : Phả cũ chép cụ đỗ bảng nhãn, như thế có lẽ là nhầm,  học vị bảng nhãn là học vị thứ hai sau trạng nguyên thế mà sử chính thức nói là cụ đỗ đầu, và ngay từ đời Trần Thái Tông thứ 16 đã đặt ra thể lệ tuyển tam khôi (3 học vị đầu là : Trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa) rồi. Vậy cụ phải là trạng nguyên hay là một vị gì tương đương mà đời Trần vẫn gọi (H.T.Tấn).
(6) Bản Lịch triều Đăng khoa lục chép cụ làm quan đến chức Thẩm hình Thượng Thư rồi mới về hưu, và nói cụ là ông tổ xa đời của Hoàng Bôi. Trong bản Lịch triều hiến chương quan chức chí, ông Phan Huy Chú có chua rằng : “Quan Chế nhà Trần có lục bộ thượng thư, đứng đầu hàng văn trong triều, và ở dưới chức tể tướng”. Song không rõ phẩm chật ra sao.
(7) Khi có cụ nào ký táng ở đồng làng khác, thì sẽ nói rõ tên ở làng ấy. Còn đồng làng ta thì chỉ nói xứ đồng mà thôi.
          Họ ta tương truyền rằng : Cụ Thượng sinh ra được bốn con trai, cho ở bốn giáp bên Đoài (làng ta có tám giáp); bốn giáp bên Đoài là : Tiền Nhất, Tiền Nhì, Đồng Thượng và Đồng Hạ.
          Trong bản Lịch triều đăng khoa lục có chép : “Tục truyền rằng : tảng sáng, thân mẫu cụ đi gánh nước (bản phả Đôn Cẩn có nói là gánh nước ở giếng thiên tôn), bỗng thấy ngôi sao sa vào thùng nước bèn lấy giải bịt miệng thùng lại, đem về uống một mình, rồi ra có thai sinh được Cụ”.
          Tiến sĩ ở huyện Từ Liêm, chính cụ khai khoa trước nhất (xét lời bổ di trong văn phả hàng huyện, thì còn có hai cụ Tô Hiến Thành và Đỗ kính Tu đều đậu khoa Minh Kinh triều nhà Lý. Đây theo bản đăng khoa lục, nên kể cụ là người khai khoa tiến sĩ trong huyện ta).
          Trong quyển Bạch liên khảo chí (do ông Nguyễn Văn Địch người làng ta làm ra) có chép : “Cụ Hoàng quán Chi theo điềm sao sáng mà ra đời, hay chữ hơn cả thiên hạ. Hồi năm Quang Thái nhà Trần, thi đỗ đầu, đi trước mở khoa Tiến sĩ cho huyện ta”.
Cụ bà
(Vợ cụ Thượng)
          Cụ Thượng sinh được bốn con trai, cho ở bốn giáp. Có lẽ là tuỳ ý mà cho vào giáp, hoặc theo thứ tự anh em mà cho vào bốn giáp : Tiền Nhất, Tiền Nhì, Đồng Thượng, Đồng Hạ ở làng ta, điều đó còn chưa biết chắc. Hiện nay chi Tiền Nhất và chi Đồng Thượng đều không còn dòng dõi gì nữa. Chỉ có chi Tiền Nhì và chi Đồng Hạ thì có con cháu đông đúc. Chi Tiền Nhì, tám đời (1) dưới cụ Thượng, vì phả ký thất truyền, không biết tra xét vào đâu mà biết ra sao cả. Song, xưa nay vẫn quen gọi Tiền Nhì là chi Thứ, Đồng Hạ là chi rốt. Mà cụ Thanh Phong chép ở đời thứ hai dưới này là cụ tổ phân chi Đồng Hạ chúng ta.
          Vậy có thể khẳng định rằng bốn con cụ Thượng chắc theo thứ tự trưởng, thứ, ba, tư mà nhập vào bốn giáp làng ta.

----------------------------
(1) Đây nói : Tám đời sau cụ Thượng (cụ Thái tổ Quán Chi) không có phả ký rõ rệt, có lẽ nói nhầm. Vì giòng dõi chi Tiền Nhì được biết rõ với cụ Thuần Hậu ngang hàng với cụ Phúc Thực, cụ tổ đời thứ 8 của chi Đồng Hạ, và như thế tức là chi Tiền Nhì chỉ có 6 đời sau cụ Quán Chi mới, thất truyền mà thôi (xin xem trang 20 dưới đây và tờ 18 của bản phả gô chữ Hán) - H.T.Tân

ĐỜI THỨ HAI(SỐ2)
          Cụ Thanh Phong( 21 ), làm chức Đồng tri lực sĩ triều nhà Lê. Cụ tên là Công Tình, tự là (không biết), con của cụ Thượng Thư (1) và của phu nhân (không rõ tên). Cụ giúp triều Lê đánh dẹp quân Minh (xâm lược). Ban đầu cụ làm lực sĩ (2), sau làm Đồng tri lực sĩ (3) lấy một vợ, sinh ngày     tháng   năm        mất ngày rằm tháng năm (4), tên hiệu là Thanh Phong, thọ (không rõ) tuổi, táng ở xứ Tô Ỏ.

------------------------
(1) Cứ tính theo thứ tự trong bốn giáp, thì cụ Thanh Phong có lẽ đứng vào hàng thứ tư.
(2) Trong tập Thiên nam dư hạ của vua Lê Thánh Tôn chép rằng : Quân lính trong cung điện nhà vua có Kim quang điện các tư lực sĩ. Song không rõ phẩm trật ra sao.
(3) Theo như điều lệ quan chức nhà Lê, thì chức đồng tri hàng võ, bậc tòng tam phẩm.
          Lại theo bản Lịch triều hiến chương thì hàng võ từ chức quản lĩnh, đồng tri trở lên đều là chức to cả.
(4) Bản phả cũ không nói ngày tháng cụ mất. Đây theo bản phả Đôn Cẩn, xin bổ chính lại.

Cụ bà
(Vợ cụ Thanh Phong)
          Cụ họ Phạm, tên hiệu là Minh Nguyệt, không rõ cụ sinh được mấy giai mấy gái. Khi mất, hợp táng với cụ ông ở Tô Ỏ
Lời bàn
          Sau đời cụ Thượng, từ cụ Thanh Phong, cụ Đoan Trung đến cụ Trực Tín, cụ nào sinh ra cụ nào, phả cũ không hề nói rõ, thành thử không sao khỏi ngờ.
          Nay cứ tính năm mà xét ra, thì cụ Thượng đỗ vào năm Quang Thái thứ sáu (1393) nhà Trần, trải qua ba đời vua nữa nhà Trần, rồi nhà Hồ và thời kỳ nội thuộc nhà Minh bên Tàu, tất cả khoảng 22 năm.
          Đến cụ Thanh Phong, vì có công đánh giặc Minh, được làm lực sĩ. Thế là cụ ở vào thời vua Lê Thái Tổ, cách đời cụ Thượng ngót 30 năm. Vậy thì cụ Thanh Phong chắc là con cụ Thượng, không còn phải ngờ nữa.
          Vả, từ năm Quý Dậu, niên hiệu Quang Thái thứ sáu đời vua Thuận Tôn nhà Trần đến năm Quý Mão đời Thành Thái thứ 15 (1904) cộng 511 năm. Nếu coi cụ Tham Chính Trực Tín (đời thứ 5 trong bản phả này) là một trong 4 con của cụ Thượng, đồng hàng với cụ Thanh Phong, thì thế đại không đúng với số năm, vì chẳng lẽ từ cụ Thượng đến giờ (1904), chuyền nối mới được mười hai đời mà thôi ư ? Vậy cứ theo cái thuyết 30 năm làm một đời, thì thứ tự cha con ông cháu truyền nối nhau mới không sai lệch.
          Lại nữa, cứ như bản Đăng khoa lục chép, thì cụ Thượng là ông tổ xa đời của cụ Thị Lang (Hoàng Bồi). Mà trong sổ Hương Hiền cũng nói cụ Thượng là ông tổ sáu đời của cụ Thị Lang. Vậy có thể lấy đó làm chứng cớ chắc chắn được. Cụ Đốc Trực Hiên soạn câu đối cung tiến nhà thờ cũng đề là cháu 12 đời. Thế là kê cứu cũng đã đúng lắm.
          Vậy trong bốn cụ, từ cụ Thanh Phong trở xuống đến cụ Tham Chính Trực Tín, xin chép cụ này là con cụ nọ, để tỏ lòng dõi một cách rõ ràng.

Phụ lục
I- Dòng dõi chi Tiền Nhất :
          Chi này lưu lạc đã lâu, đến đời cụ Đốc Trực Hiên mới có trưởng Đồng trở về, rồi ở tại nhà thờ giữ việc thờ cúng, sinh được hai trai, tên gọi Nhiệm và Thích. Về sau chi đó suy sút đến hết.
II- Dòng dõi chi Tiền Nhì :
          Lời tựa trong bản Thế phả có nói : “Trưởng chi này ở tại nhà ông Đồ Khánh. Xong gia phả nhà đó đã thất lạc, mà chi trưởng cũng suy đồi, làm luỵ đến cả cụ Cao cao tổ” v.v... Nay xét cụ Cao cao tổ đó tức là cụ Thuần Hậu, ngang hàng với cụ Phúc Thực ở đời thứ tám thuộc chi chúng ta (Chi Đồng hạ). Từ cụ Thượng đến đây được tám đời. Trong khoảng đó có mấy đời thất truyền, nên nay kể cả cụ Thuần hậu là biệt tổ của chi Tiền Nhì.
A- Cụ Thuần Hậu(8) :
Cụ tên là Phúc Thọ, cháu tám đời cụ Thượng Thư, lấy vợ họ Nguyễn hiệu là Từ Minh, đẻ ra cụ Đức Vọng, mất ngày 21 tháng tư, táng tại ..............
B- Cụ Đức Vọng : (9)
Cụ sinh hai trai : Trưởng là Pháp Hùng, thứ là Công Thể.
C- Cụ Pháp Hùng(101) và cụ Công Thể(102) :
1/ Cụ Pháp Hùng - Cụ tên là Pháp Hùng, hiệu là Tư Huệ, con trưởng của cụ Đức Vọng.
          Cụ Pháp Hùng sinh cụ Phúc Chính, cụ Phúc Chính sinh cụ Phúc Chí tên là Nhân Chiêu, cụ Phúc Chí sinh cụ Đức Thuần, tên là Thời Dự, cụ Đức Thuần sinh Hoàng Thời Lập, Thời Lập sinh Hoàng Lạc.
2/ Cụ Công Thể :(đ10)
          Cụ tên là Công Thể, hiệu là Phúc Thuận, phủ sinh ở phủ ta, con thứ hai của cụ Đức Vọng.
          Cụ Công Thể sinh được năm trai : Công Nghi, Quốc Giám, Chí Thiện, Thuần Mẫn và Đức Năng(đ110)
D) Các cụ Công Nghi, Quốc Giám, Chí Thiện, Thuần Mẫn và Đức Năng.
1/ Cụ Công Nghi (đ11) : Cụ tên là Công Nghi, hiệu là Phúc Hiền, con trưởng cụ Công Thể (Phúc Thuận). Chi này không có con cháu.
2/ Cụ Quốc Giám (đ11) : Cụ tên là Quốc Giám, hiệu là Phúc Cẩn, lâm sinh đồ, con thứ hai của cụ Công Thể (Phúc Thuận).
          Cụ Quốc Giám sinh cụ Phúc Chánh tên là Thời Nghĩa. Cụ Thời Nghĩa không có con.
3/ Cụ Chí Thiện (đ11) : Cụ tên là Chí Thiện, hiệu là Thuần Mật, đội trưởng thuộc viên, con thứ ba của cụ Công Thể (Phúc Thuận).
          Cụ Chí Thiện sinh được hai trai :
          Con thứ cụ Chí Thiện tên là Chí Mỹ, không có con.
          Con trưởng cụ Chí Thiện tên là Hữu Dung (đ12), hiệu là Thuần Trực, làm chức phó sở sứ, sinh được  hai trai.
Con thứ cụ Hữu Dung tên là Hữu Trạch, hiệu là Thuần Cán, không có con.
Con trưởng cụ Hữu Dung tên là Hữu Lượng (đ13), hiệu là Phúc Chuyên, làm viên tử, sinh được ba trai.
Con trưởng cụ Hữu Lương tên là Đức Tú (đ14), hiệu là Phúc Lương.
Con thứ hai cụ Hữu Lương tên là Thời Kỷ (đ14) hiệu là Phúc Thiện, sinh ra cụ Trung Tín tên là Đình Óc. Hai chi này đều không có con cháu cả.
          Con thứ ba cụ Hữu Lương tên là Thời Pháp (đ14), hiệu là Trực Thành, sinh cụ Thanh Thái, tên là Thời Tập đ15. Thời Tập sinh Hoàng Lại đ16. Hoàng Lại sinh hai trai : trưởng là Hoàng Chuyên (đ17), thứ là Hoàng Húc (đ17).
4/ Cụ Thuân Mẫn (đ11) : Cụ tên hiệu là Thuần Mẫn, con thứ tư của cụ Công Thể (Phúc Thuận). Chi này không có con cháu.
5/ Cụ Đức Năng (đ11) : Cụ tên là Đức Năng, hiệu là Phúc Hưởng, con thứ năm của cụ Công Thể (Phúc Thuận) sinh được năm trai :
Con trưởng cụ Đức Năng : Tên là Công Chấn (đ12) hiệu là Thuần Chánh, không có con.
          Con thứ hai cụ Đức Năng : Tên là Các (đ12) hiệu là Phúc Chân, sinh cụ Trực Phương tên là Thời Tịnh (đ13). Cụ Trực Phương sinh được bốn trai, trong số đó có ba cụ, tên là Lai (đ14), Bồng (đ14) và Lộc (đ14) đều không có con cả. Chỉ có con trưởng là cụ Thuần Trực, tên là Thơi Dụ (đ14), sinh được hai trai : trưởng là Hoàng Huyên (đ15), thứ là Hoàng Huân (đ15). Huyên sinh ra Bách (đ16), Huân sinh ra Khuyến (đ16).
          Con thứ ba cụ Đức Năng (đ11) tên hiệu là Phúc Trinh, sinh năm trai : trưởng là Phúc Minh, tên gọi Khắc Trường (đ12) sinh Khắc Khâm (đ13), Khắc Khâm sinh Khắc Bằng (đ14)  Khắc Bằng sinh Hoàng Tứ (đ15), Hoàng tứ sinh ....... con. Con thứ hai cụ Phúc Trinh, tên là Thời Tiếp (đ12), hiệu là Phúc Hạnh, không có con. Con thứ ba cụ Phúc Trinh, tên là Thời Thố, hiệu là Phúc  Lý, cũng không có con. Con thứ tư cụ Phúc Trinh tên là Cẩn Trực (đ12), hiệu là Chí Công, sinh được hai trai : trưởng là Phúc Tường đ13, tên gọi Thời Nhàn (đ13), Thời Nhàn sinh Hoàng Trì (đ14) và Hoàng Óc (đ14), Hoàng Chì sinh Xuân Lan (đ15). Lan sinh ....... con. Con thứ (con thứ cụ Cẩn Trực) là Hoàng Xuân (đ13). Xuân sinh Hoàng Thu (đ14). Thu hiện sinh ..... con. Con thứ năm cụ Phúc Trinh tên là Đình Tú (đ12), sinh ba trai : trưởng tên là Đình Lệnh đ13, thứ tên là Đình Hai (đ13) đều không con, thứ ba tên là Đình Ba (đ13) sinh ra Hoàng Chí (đ14), Chí hiện sinh        con.
          Con thứ tư cụ Đức Năng : tên là Hữu Nghệ (đ12), hiệu là Phúc Thành, sinh hai trai : trưởng là Đôn Thực tên gọi Thời Võ (đ13), sinh ra Thuần Mật, tên gọi Thời Nghiệp (đ15). Thuần Mật sinh Cần Mẫn tên gọi Phúc Cơ (đ15). Cần Mẫn sinh Hoàng Kiên đ16. Kiên hiện sinh .... con. Con thứ cụ Hữu Nghệ  là Phúc Cần (đ13), tên gọi Thời Thục (đ13), sinh ra Hoàng Tố (đ14), Hoàng Tố sinh hai trai : trưởng là Hoàng Hảo (đ15), thứ là Hoàng Đệ (đ15).
III- Dòng dõi chi Đồng Thượng :
          Chi này không có con cháu.

ĐỜI THỨ BA(SÔ111)
          Cụ Đoan Trung làm chỉ huy sứ triều nhà Lê.
          Cụ tên là Công Thanh, lại có tên khác là Cảnh, con (1) của cụ Thanh Phong, đồng tri lực sĩ và của Minh Nguyệt phu nhân.
          Cụ đỗ nho sinh trúng thức (2) đi thi Hội, trúng tam trường (kỳ thứ ba) (3) làm Tri huyện ở Duy Tiên huyện (4) (thuộc Phủ Lý Nhân - Thái Bình), sau lại được lựa làm cẩm y vệ chỉ huy sứ (5), lấy một vợ, sinh ba trai (6), hai gái; mất ngày mồng bốn tháng chạp, thọ ....... tuổi, tên thuỵ là Đoan Trung (7), táng tại xứ A Bao Cung.

------------------------------
(1) Không rõ vào hàng thứ mấy
(2) Phả cũ không nói. Đây theo bản phả Đôn Cẩn mà bổ chính lại. Xét quan chế nhà Lê hễ viên tư (con quan) mà đỗ hương cống (cử nhân) thì gọi là nho sinh trúng thức.
(3) Tức như Phó bảng bấy giờ.
(4) Tòng thất thẩm
(5) Bản phả Đôn Cẩn nói là Đô chỉ huy sứ, nay theo bản phả Cảnh hưng xin đổi là Chỉ huy sứ ngạch quan võ, tòng tạm phẩm (coi lời chua về quan chế nhà Lê trong bộ Việt sử thông giám).
(6) Trường là Cụ Sá Nhân, làm thiên  hộ, thứ hai là cụ Binh Trực, thứ ba là cụ Huyện Thừa (ngồi huyện Thân Khê).
(7) Bản phả cụ Đốc Trực Hiên nói vụ Đoan Trung mất ngày mồng bốn tháng 11. Bản phả Đôn Cẩn nói giỗ ngày 3 tháng 6 và nói hiệu cụ là Đoan Trung. Nay theo bản phả Cảnh Hưng, xin cai chính lại.

Cụ bà
(Vợ cụ Đoan Trung)
          Cụ họ Lê, hiệu Trinh Thuận (1) sinh ba trai, hai gái (2) mất ngày hai mươi nhăm tháng chín (3) hợp táng với cụ ông ở A Bao Cung.

---------------------------
(1) Bản phả Đôn Cẩn nói là Trinh Thục. Nay theo bản phả Cảnh Hưng, xin đổi lại.
(2) Xin coi lại chỗ chép về cụ ông.
(3) Bản phả Cảnh Hưng không nói đến ngày cụ mất. Nay theo bản phả Đôn Cẩn xin bổ chính lại.

Phụ lục
          Bản phả cũ chép cụ Đoan Trung có cháu họ ba đời (gọi cụ là ông chú (bác) đỗ Tiến sĩ. Vậy chắc cụ còn có anh em ruột nữa. Có lẽ bấy giờ anh em cụ đi ở làng khác, cho nên gia phả không chép đến chăng.
          Hiện nay (chi họ gọi là Hoàng) ở làng Thượng Yên Quyết, sau đời cụ Nhật Ái (đỗ Tiến sĩ) mất cả phả ký, không biết kê cứu vào đâu, cho nên xin để khuyết vậy. (Xin coi lại mục “Khảo về dật sử” ở trên)

ĐỜI THỨ TƯ (SỐ111)
Cụ Bình Trực(1112) làm chức đề khống ở Sở Trúc Mộc doanh tạo triều nhà Lê.
Cụ tên là Công Đạo, tự là                                        , con thứ hai cụ Chỉ huy sứ Đoan Trung và Trinh Thuận phu nhân, em ruột cụ Thiên Hộ Sá Nhân, anh em ruột cụ huyện thừa (1).
          Cụ do đô lại làm Đề Khống (2) ở Sở Trúc Mộc Doanh Tạo lấy một vợ sinh ba trai (3), một gái. Mất ngày mồng năm tháng mười hai, thọ ...... tuổi. Hiệu là Bình Trực táng tại xứ Cây Sồng.

---------------------------
(1) Cụ làm huyện thừa tại huyện Thần Khê, thuộc phủ Tiên Hưng.
(1) Theo tập Thiên Nam Dư Hạ đời Lê Hồng Đức thì huyện thừa vào Tòng Bát Phẩm.
(2) Không rõ phẩm chất ra sao.
(3) Cụ Tham Chính là một trong ba con cụ Bình Trực.
Sở Trúc mộc doanh tạo : Chắc  là cơ quan xây dựng và cung cấp tre gỗ, kiểu như Công ty kiến trúc kiêm cửa hàng tre gỗ ngày nay (H.T.Tấn).

Cụ Bà
(Vợ cụ Bình Trực)
          Cụ họ Nguyễn, hiệu là Từ Ý, sinh ba trai, một gái (1); mất ngày mười ba tháng năm, hợp táng với cụ ông ở xứ Cây Sồng.

---------------------------
(1) Coi lại chỗ chép về cụ ông.
Phụ lục
Đời thứ tư
a) Cụ Thiên hộ Sá Nhân (1111)
          Cụ là con trưởng cụ Đoan Trung và Trinh Thuận phu nhân, anh ruột cụ Bình Trực và cụ Huyện Thừa. Chi phái cụ ra sao không rõ.
b) Cụ Thần Khê huyện Huyện Thừa :(1113
          Cụ là con thứ ba cụ Đoan Trung và Trinh Thuận phu nhân, em ruột cụ Thiên Hộ và cụ Bình Trực. Chi phái cụ ra sao cũng không rõ.
c) Con gái cả cụ Đoan Trung
d) Con gái thứ của cụ Đoan Trung

ĐỜI THỨ NĂM
          Cụ Trực Tin (11121)số, được tặng phong làm tham chính đời nhà Mạc.
          Cụ tên là Văn Tiến, tự là                                        , con (1) cụ Bình Trực và cụ Từ Ý.
          Cụ do chân nho sinh (2) được tặng phong Tham Chính (3) lấy hai vợ, sinh hai trai (4), hai gái. Mất ngày 14 tháng năm, thọ...... tuổi, hiệu là Trực Tín, táng tại xứ A Bao Cung (5).

----------------------------
(1) Không rõ hàng thứ mấy.
(2) Theo quan chế nhà Lê, hễ con quan viên mà thi hương trúng tam trường, lại có chân đọc sách trong Tú lâm cục ở Chiêu văn Quán, thì gọi là nho sinh.
(3) Tòng tứ phẩm. Phả cũ lại chép : “Họ ta tương truyền rằng : Cụ được tặng phong thêm tước thái bảo”. Nay xét bản Lịch Triều hiến chương, phàm con làm bá tước thì cha mới được tặng phong đến thái bảo. Vậy e lời truyền văn kia không khỏi sai lầm.
(4) Trưởng là cụ Tích Phúc, thứ là cụ An Nghĩa, làm thị lang.
(5) Tức là khu Cánh Cung đồng Hạ Yên Quyết.

ĐỜI THỨ SÁU
          Cụ An Nghĩa Số111212), làm thị lang đời nhà Mạc.
          Cụ tên là  , tự là Hoàng Nghi, con thứ hai cụ Tham Chính Trực Tín và Thiện Hạnh lịch nhân, em cụ sinh đồ Tích Phúc.
          Thuở bé, cụ có tiếng là thần đồng, mười hai tuổi mồ côi cha mẹ phải nương nhờ bà ngoại (1) nuôi cho ăn học. Hai mươi bẩy tuổi đỗ thi Hương. Năm bốn mươi ba tuổi, cụ đỗ tiến sĩ thứ tam khoa Mậu Thìn, niên hiệu Sùng Khang thứ ba (1569) đời Mạc Mậu hợp. Ban đầu làm chức lực sự ở toà thần võ (2), rồi được thăng làm cấp sự trung (3) thuộc Công Khoa, sau ra làm hiến sát sứ (4) ở đạo Hưng Hoá. Được sáu năm, lại vào làm đô cấp sự trung (5) thuộc Công Khoa. Trải chín tháng lại ra làm Tham Chính (6) ở đạo Hưng Hoá. Qua bẩy năm được thăng làm thừa tuyên sử ở đạo Hưng Hoá (7). Sau đó ba năm, thăng chức Hữu thị lang thuộc bộ Lễ (8), được phong làm triều liệt đại phu (9), giữ việc trong tú lâm cục thuộc Chiêu văn Quán. Cha mẹ được tặng.

-----------------------------
(1) Không biết tên họ là gì
(2) Không rõ phẩm chật ra sao
(3) Theo tập thiên nam dư hạ thì vào chánh bát phẩm
(4) Tức là chức Án sát bây giờ
(5) Chánh thất phẩm
(6) Tòng tứ phẩm
(7) Tức là chức bố chính bây giờ
(8) Tòng tam phẩm, bản Lịch triều đăng khoa lục chép cụ làm quan đến thừa chính sự, sau theo về với nhà Lê, được thăng làm thị lang. Như vậy thì khác với đây lắm.
(9) Chánh ngũ phẩm
phong, vợ con được hưởng âm (1)
          Ngày 14 tháng 11 năm Nhâm Thìn (1592) cụ được gặp Trịnh Tùng, tiết chế, giúp việc khôi phục nhà Lê (2). Bấy giờ cụ đã 67 tuổi. Trước cụ bị Sung, tướng Nam đao nhà Mạc chèn ép nên đã xin về quê hương. Qua hôm sau, cụ đến cửa dinh dâng tờ hàng phục (3), xin đem tính mạng về nhà cho được yên thân. Khi đó Trịnh tiết chế có phê chữ và đóng ấn vào tờ thư của cụ, cho phép về nghỉ.
          Từ đó cụ được thong dong chọn đạo làm tôi.
          Cụ lấy ba vợ, sinh ba trai (4), hai gái (5). Mất ngày 30 tháng một (mười một), thọ ....... tuổi, tên huỵ là An Nghĩa, táng ở xứ Thiên Tôn.

-------------------------
(1) Theo bản Quan chức chí nhà  Lê, thì thị lang vào tòng tam phẩm. Xét Lịch truyền hiến chương nói về quan chế đời Hồng Đức rằng : Phàm ai tòng tam phẩm, thì cha được phong tham chính, mẹ được phong linh nhân, vợ được phong thận nhân. Thế thì hiệp đúng với đây lắm. Có lẽ khi nhà Mạc được nước, cũng noi theo quan chế nhà Lê chăng. Vậy nay cứ theo quan chế nhà Lê mà chữa những chỗ phẩm chật và chức tước của cụ tham chính và cụ thị lang.
(2) Lê Thế Tôn.
(3) Bản đăng khoa lục của huyện ta có chép rằng : “Cụ bỏ Mạc theo Lê”.
(4) Trưởng tên là Miễn Thiệu, thứ hai, tên là Thịnh, thứ ba tên là Trạm.
(5) Trưởng tên là                                    , thứ tên là Dụng.
          Họ ta có một khu đất ở xóm Sau Đình (1). Tương truyền rằng đó là chỗ đất cũ của cụ Thị Lang, có trồng cây thị. Đến đời cụ Đốc Trực Hiền, cây đó đã cỗi. Đến đời cụ huấn Khắc Trai, lại trồng cây thị khác để giữ lấy dấu vết.
          Bản đăng khoa lục của huyện ta có chép : “Tương truyền rằng : khoa trước, cụ đã đỗ Tiến sĩ, song vua nhà Mạc chê cụ thấp người bé vóc, không cho đỗ”. Đến khoa sau cụ lại đậu tiến sĩ lần nữa. Thái Hậu (2) nhà Mạc, là người tinh mắt, thấy cụ thấp bé, lại thấy ông Đồng Đắc, người làng Chiền Dương (3), chột một mắt, bèn than rằng : “Nhân tài thế này, vận nước suy đến nơi !” (4).
          Bản Bạch liên Khảo có chép rằng : “Văn chương dồi dào lanh lẹ, cụ nổi tiếng là thần đồng. Phải thi lại thế mà vẫn không mất phần giáp bảng, cụ thật văn tài lục lõi như thứ tiền thanh đồng, dù lựa lọc đến muôn lần cũng không phí một đồng nào cả.

--------------------------
(1) Gần ao nhà Nguyễn Văn Soạn
(2) Con gái của ông Quyện tướng Nam Đạo nhà Mạc
(3) Thuộc huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương.
(4) Sánh với lời chép trong bản Đăng khoa lục sưu giản thì thấy cũng giống như thế. Họ ta tương truyền rằng : “Vì cớ đó, nên sau khi đã đỗ, cụ lấy vợ, chỉ cốt kén người cao lớn”.

Các cụ bà
(Ba vợ Cụ An Nghĩa)
          I- Cụ cả : Cụ họ Nguyễn, hiệu Trinh Tính, được tặng phong làm thận nhân (1), con gái của thầy học cụ Thị Lang. Sinh một gái tên là                        , mất ngày                                         hợp táng với cụ ông ở Thiên Tôn (2).
          2/ Cụ Hai : Cụ họ Hoàng, hiệu là Từ Thuận, người làng Mai Dịch, tổng ta, mất ngày                                                 , hợp táng ở Thiên Tôn.
          3/ Cụ Ba : Cụ họ Nguyễn, hiệu là Từ Đức, con gái cụ Trung Quân Công (3). Sinh ba trai (4), một gái (5). Mất ngày 26 tháng ba, cũng hợp táng ở Thiên Tôn.

----------------------------
(1) Tòng thất phẩm
(2) Bản phả Cảnh Hưng về chỗ táng cụ Thị Lang và hai cụ bà đều không nói, song chị  chép chung một câu ở sau chỗ cụ bà rằng : “Hợp táng ở cả Thiên Tôn. Hiện nay mộ cụ Thị Lang ở Thiên Tôn, thì mộ cụ Cả và cụ Hai quyết không lễ táng chỗ khác.
(3) Không rõ tên họ là gì.
(4) Xin coi lại chỗ chép về cụ ông.
(5) Tên là Dụng



Lời bàn
          Cứ đem lời phả cũ chép về hành trạng cụ Thị Lang như thế, mà so sánh với bản Đăng khoa lục nói cụ theo Lê, được thăng làm thị lang, thì thật trái nhau, vì như vậy thì chức thị lang là do nhà Lê ban cho. Song bản phả cũ do cụ Phúc Miễn, con trưởng cụ Thị Lang làm ra, chép kỹ được hết sự trạng bấy giờ, ngày tháng và năm không hề sai với quốc sử, lẽ nào quá lầm đến thế ? Vậy thì nên theo bản phả cũ mới đúng.
          Trong khi thay triều đổi chợ, cụ làm quan  với nhà Mạc, đã rành phận nghĩa vua tôi, song đối với nhà Lê, cụ không thể chống trả được, vì Lê là chính thống. Khi Ngọc Liễn bỏ thuyền, chạy lên Tam Đảo, quan quân nhà Lê nhân dịp chiến thắng, tiến đóng Thăng Long, thì Mạc Mậu Hợp, đang đêm phải chạy đi Kim Thành (thuộc tỉnh Hải Dương), việc nước thật đã hỏng bét. Tuy vậy, mãi đến tháng 12, năm Nhâm Thìn (1592), nhà Mạc phải chạy lên Cao Bằng . Kìa ! Mảnh đất Cao Bằng, niên hiệu Võ An nhà Mạc hãy còn thoi thóp hơi thở, các quân Nam Đạo, vẫn còn hẹn ngày đến đánh nhà Lê. Khi đó, chắc cụ phải dự vào bọn đi Nam để đánh nhà Lê. Lui tới dở dang, cực chẳng đã cụ phải bầy kế xin về quê hương để chùng chình khỏi phải đi vội. Qua hôm sau, cụ liền đến cửa tướng Trịnh, dâng thư xin hàng. Ấy tức như Việt sử Tục biên chép rằng : “Quan quân đóng ở bên sông, các tướng nam bắc nhà Mạc tập nập đến hàng ở cửa trại lính”. Đó là việc ngày 14 tháng 12 vậy. So với ngày tháng chép trong phả, thật đúng nhau lắm.
          Như vậy, xử với nhà Mạc đã không phải là vô ơn, mà đối với nhà Lê, lại cũng phải là phạm thuận, thật xứng đáng như lời phả chép : “Thong dong trọn đạo làm tôi”.

Phụ lục
ĐỜI THỨ SÁU
          a) Cụ Tích Phúc(số111211)
          Cụ tên là                                             , hiệu là Tích Phúc, con trưởng cụ Tham chính Trực Tín và cụ Trinh Tiết, anh cụ Thị Lang.
Cụ là nho sinh triều nhà Lê, mất ngày mồng năm tháng tám, táng ở Đồn Điền.
          Cụ lấy vợ họ Nguyễn, sinh cụ Tây Nhạc (đời 7), cụ Tây Nhạc sinh cụ Nghiêm Nhã, tên là Quang Nhu (đời 8), cụ Nghiêm Nhã sinh cụ Phúc Thể, tên là Nhân Vinh (đời 9). Cụ Phúc Thể sinh hai trai : trưởng là Phúc Tín, tên gọi Văn Nga (đời 10), thứ là Thuần Dụng, tên gọi Phao (đời 10). Cụ Thuần Dụng  không có con. Cụ Phúc Tín sinh cụ Sinh đồ Chánh Nghĩa, tên là Cung (đời 11). Cụ Chánh Nghĩa sinh năm trai : trưởng là cụ Sinh đồ Thuần Trực (đời 12) tên là Thu; thứ hai tên là Khoan; thứ ba tên là Mẫn; thứ tư tên là Huệ; thứ  năm tên là Cổn. Các cụ thứ đều không có con. Duy cụ trưởng là Thuận Trực sinh được hai trai : Trưởng tên là Viết Thịnh (đời 13), thứ tên là Khắc Nhượng (đời 13), hiệu là Đôn Cẩn. Cụ Viết Thịnh không có con. Cụ Đôn Cẩn sinh ba trai : Trưởng là cụ Cương Trực, tên là Khắc Gia, thứ hai tên là Khắc Hiên, thứ ba là Thuần Hậu tên gọi Khắc Tri. Nhà Hoàng Du bấy giờ là chi trưởng của cụ Thuần Hậu, còn  ngoài ra  như Hoàng An, Hoàng Ái, Hoàng Chi Thiệu và Hoàng Thắm đều thuộc về chi phái đó. Song, phả ký của chi ấy không rõ nên khó xét được thứ tự trên dưới ra sao cả.
          b) Con gái cả cụ Tham chính Trực Tín
          c) Con gái  thứ cụ Tham chính Trực Tín

ĐỜI THỨ BẢY
          Cụ Phúc Miên (1112121)  : làm tri huyện cuối đời nhà Mạc.
          Cụ tên là Miễn Thiệu, tự là Nhân Thọ, con trưởng cụ Thị lang và Từ Đức phu nhân, anh ruột hai cụ Thịnh và Trạm.
          Trước cụ làm Cẩn Sự Tá Lang (1) sau ngồi tri huyện (2) tại huyện Tiên Phong (3) và huyện An Lạc (4); lấy hai vợ sinh năm trai (5), hai gái. Mất ngày 22 tháng 11, thọ ..... tuổi, hiệu là Phúc Miên, táng tại xứ A Bao Cung

----------------------------
(1) Chánh thất phẩm
(2) Tòng thất phẩm
(3) Thuộc Phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây
(4) Thuộc phủ Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên
(5) Trưởng là cụ Vệ Uý, thứ hai là cụ Phúc Khang, thứ ba là cụ tự thừa Phúc Thực, thứ tư là cụ Phúc Quảng, thứ năm là ..............

Các cụ bà
(Hai vợ cụ Phúc Miên)
10/ Cụ cả : Cụ họ Doãn, hiệu là Từ Nhân, sinh ba trai (1), mất ngày 11 tháng năm.
20/ Cụ Hai : Cụ họ                             , hiệu                                       , sinh hai trai (2), hai gái;  mất ngày                                      (3).

---------------------------
(1) Cụ Vệ Uỷ, cụ Phúc Khang, cụ Phúc Thực.
(2) Cụ Phúc Quang, cụ ...............................
(3) Phả cũ chép cụ Phúc Miên sinh năm trai hai gái, song chi chép cụ bà Từ Nhân sinh được ba trai mà thôi. Vậy, còn ra chắc là do cụ Hai sinh ra mà  phả cũ bỏ sót. Nay xin bổ chính lại, còn như chỗ táng hai cụ bà, phả cũ đều không chép cả. Có lẽ là hợp táng ở A Bao Cung chăng.

Lời bàn
          Theo bản Lịch triều hiến chương quan chức chí, thì hàng quan tam phẩm, được truy phong một đời, mà vợ cũng được dự phòng. Thế là hợp với lời phả. Song tuy nói rằng “vợ con được hưởng ấm” nhưng chức cẩn sự lang lại đứng vào cái lệ phong ấm hàng con quan nhất phẩm. Như thế theo bản quan chức chí nói thì con quan tam phẩm không được dự phong chức ấy. Vậy cụ Phúc Miên bấy giờ do chân ấm mà làm nên, hay là do đường làm quan mà đi tới, đều không biết rõ.
          Cụ Phúc Miên làm tri huyện vào cuối nhà Mạc hay là đầu nhà Lê trung hưng, phả cũ không hề nói rõ. Nay tính ra, khi cụ Thị Lang 43 tuổi, đỗ tiến sĩ triều Mạc Mậu Hợp (1569), trải trên dưới hai chục năm, được thăng đến chức Thị Lang. Tới năm Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Ninh thứ hai (1592) nhà Mạc phải chạy lên Cao Bằng, cụ 67 tuổi, xin về hưu, nhà Mạc tồn tại lay lắt và đến năm 1677 bấy giờ mới mất hẳn. Trong khoảng thời gian từ năm cụ đỗ tiến sỹ đến năm cụ xin về hưu cộng được 23 năm, thì chắc là cụ Phúc Miên cũng đã làm quan trong thời gian ấy, mà cái chức cụ Phúc Miên được đó, chắc là do đường lối làm quan mà bước lên vậy.

Phụ lục
ĐỜI THỨ BẢY
          a) Cụ Thịnh :1112122
          Cụ Thịnh là con thứ hai cụ Thị Lang và Từ Đức phu nhân, em ruột cụ huyện Phúc Miên và là anh ruột cụ Trạm.
          Cụ sinh hai trai, ba gái.
          b) Cụ Trạm :
          Cụ Trạm là con thứ ba cụ Thị Lang và Từ Đức phu nhân, em ruột cụ Phúc Miên và cụ Thịnh.
          Cụ sinh một trai.
          c) Con gái cả cụ Thị Lang
Cụ tên là                                        , con gái cả cụ Thị Lang và Trinh Tính Thận Nhân, chị cụ Phúc Miên, cụ Thịnh và cụ Trạm.
          Cụ lấy chồng .................................................... ( ? )
          d) Con gái thứ cụ Thị Lang
          Cụ tên là Dụng, con gái thứ cụ Thị Lang và Từ Đức phu nhân, em gái cụ Phúc Miên, cụ Thịnh và cụ Trạm.
          Cụ lấy chồng .................................................... ( ? )

ĐỜI THỨ TÁM
          Cụ Phúc Thực (11221213):   làm tự thừa đời nhà Lê.
          Cụ tên là Nhân Đổng, tự là                                           , con thứ ba cụ huyện Phúc Miên và cụ Từ Nhân, em ruột cụ Vệ Uý (1) và cụ Cáp môn sứ (2), và là anh cụ Cáp môn kiêm tri huyện.
          Cụ do chân viên tử mà làm tự thừa (3); lấy một vợ, sinh hai trai (4), mất ngày mồng 6 tháng 6, thọ ....... tuổi, hiện là Phúc Thực (5), táng tại ................

----------------------------
(1) Trong tập Thiên nam dư hạ nói chức vệ uý vào tòng bát phẩm.
(2) Tòng bát phẩm
(3) Theo lời chua trong bộ Việt sứ thông giám, thì quan chế nhà Lê có đặt sáu tự thừa : tự thừa hàm chánh thất phẩm.
(4) Trưởng là                                              ; thứ là cụ Phúc An.
(5) Bản phả Cảnh Hưng và bản phả cụ Đốc (Trực Hiên) đều nói Phúc Thực là tên tự của cụ, nhưng nay xét cụ Phúc Miên và cụ Phúc Ân đều đặt tên hiệu bằng chữ  “Phúc”, thì cho Phúc Thực là tên hiệu cụ Tự Thừa, mới phải.

Cụ bà
(Vợ cụ Phúc Thực)
          Cụ họ Nguyễn, tên là Nhẫn, hiệu là Từ Toàn, sinh hai trai, mất ngày mồng 3 tháng năm, táng tại ...................

Phụ lục
ĐỜI THỨ TÁM
a)- Cụ vệ Uý (11121211)
          Con trưởng cụ huyện Phúc Miên và cụ Tư Nhàn, anh ruột các cụ Cáp- môn- Sứ, cụ Tự Thừa, và cụ Cáp- Môn - Kiêm tri huyện.
b)- Cụ Phúc- Khang ( 11121212  )
          Con tên Đình - Xuân, con thứ hai cụ Phúc Miên và cụ Từ Nhàn, em ruột cụ Vệ Uý, anh ruột cụ Tự - Thừa, anh cụ Cáp - Môn Sư Kiêm tri - huỵên.
          Cụ làm chức tiến- công-  thứ - lang (1), Hồng - Lô- Tự  Cáp - Môn -sứ, triều nhà Lê. Vì cụ Vệ Uý không con, nên cụ Phúc Khang phải giữ việc thờ cúng. Cụ mất ngày mồng 3 tháng 12, táng tại Sứ A- bao - Cung.
          Cụ Phúc Khang sinh cụ Phúc Khoan, tên gọi là Đắc Lộc, Tú - lâm - cục nho - sinh.
          Cụ Phúc Khoan sinh cụ On - Chất, tên gọi Nhật- Giám, Tiếng - Công - thứ - lang  Lôi - Uy - vệ - điển - bạ (2).
          Cụ On - Chất sinh hai trai : Trưởng là cụ Thận - Hậu tên gọi Bá - Huân;
                                      Thứ hai là cụ Chính- Trúc tên gọi Thời - Nhân 
          Cụ Thận - Hậu sinh cụ Huyện - Thừa Phong Độ, tên gọi Hồng Lương.
          Cụ Phong - Độ sinh cụ xã trương Ô- Thấp, tên gọi Gia - Tục
 --------------------------
(1) Chánh Cửu Phẩm
(2)Tòng Bát Phẩm.
Cụ O- Thấp sinh hai trai:Trưởng là cụ Đội- trưởng Chi- Thừa, Tên gọi Gia - Toản ; Thứ hai là cụ Đình Phùng.
          Cụ Chi-- Thừa sinh Hữu Thành, Hữu- Thành sinh Hoàng Tài (1) Hoàng Tài sinh bọn: Thức, Đức, Tạo v.v...
          Cụ Đình - Phùng sinh cụ Đình Cấn, Cụ Đình Cấn sinh bọn: Hoàng -Thường, Hoàng Tú, Hoàng- Duyên.
          Hai chi trên là chi trưởng.
          Cụ Chính- Trúc sinh cụ Phúc - Trân; Cụ Phúc - Trân sinh cụ Thuần -Cẩn, tên gọi Ngọc- Côn; Cụ Thuần Cẩn sinh cụ Chính Tâm, tên gọi Đình Trương. Cụ Thuần Cẩn sinh Hoàng Hân; Hân sinh Hoàng Kỳ, Hoàng Đoan (Quản Đoan). Đoan sinh Minh, v.v...
          Đó là chi thứ.
          c) Cụ Phúc Quảng (11121214) Cụ hiệu là Phúc Quảng, con thứ tư của cụ huyện Phúc Miên và của cụ             , em cụ Vệ Uý, cụ Cáp Môn Sứ và cụ Tư Thừa.
          Cụ có chân giám sinh trong các văn đường ở Quốc Tử Giám triều nhà Lê, rồi làm Cáp môn sứ, sau lại ngồi tri huyện huyện Tiên Phong, cụ sinh được ba trai.
          Bây giờ nhà cụ Hoàng Quả ở làng ta, và cụ Hoàng Đình Tiệp (2) ở làng Lịch Bài, huyện Vũ Tiên, tỉnh Nam Định (Cụ Đình Tiệp sinh cụ Hữu Phu (3); cụ Hữu Phu sinh cụ Văn Triết, cụ Văn Triết sinh Hoàng Doãn và Hoàng Văn Cát; Doãn sinh Triệu) đều là dòng dõi cụ Phúc Qung cả. Chỉ biết đại lược như vậy, chứ không thể xét tường tận được.
          d) Con trai thứ năm của cụ Phúc Miên
          e) Con gái cả cụ Phúc Miên
          f) Con gái thứ cụ Phúc Miên.

ĐỜI THỨ CHÍN
          Cụ Phúc Ân (111212132) trúng tam trường kỳ thi Hương đời Lê.
          Cụ tên là Lộc, tự là Nhân Hậu, con thứ hai cụ tự thừa Phúc Thực và cụ Từ Toàn, em ruột cụ ................
          Đi thi Hương đời nhà Lê, cụ trúng tam trường (1) lấy một vợ, sinh ba trai (2), một gái. Mất ngày 29 tháng 2 thọ ........ tuổi, hiệu là Phúc Ân, táng tại xứ Cây Sung.

----------------------------
(1) Tức là sinh đồ, cũng như tú tài ngày nay
(2) Trưởng là cụ                                                   , thứ hai là cụ                  
          thứ ba là cụ Cống Hoàng thời Trung.

Cụ bà
(Vợ cụ Phúc Ân)
          Cụ họ Nguyễn, hiệu là Từ Thiện, sinh ba trai, một gái (1); mất ngày 22 tháng hai, táng tại .................

--------------------
(1) Xin coi lại chỗ chép về cụ ông

Phụ lục
ĐỜI THỨ CHÍN
          Con trưởng cụ Phúc Thực
          Phả cũ thất lạc, dòng dõi truyền nối ra sao không thể xét kỹ được. Song chỉ biết rằng cháu mười một đời cụ Thượng Thư là có cụ Giám sinh Tinh - Linh, tên gọi Đăng Bảng, và cụ sinh đồ Hoàng ..................., đều cùng là chi phái của cụ này.

ĐỜI THỨ MƯỜI
          Cụ Thì Trung đỗ Hương cống triều nhà Lê.
          (Cụ là tổ phân chi ra chi chúng ta).
          Cụ tên là Phan, lại có tên khác là Thì Trung, tự là ...................., con thứ ba (1) cụ sinh đồ Phúc Ân và cụ Từ Thiện, em ruột hai cụ................
          Khi 17 tuổi, cụ đi thi Hương triều nhà Lê, trúng tam trường (2). Năm ba mươi tuổi, cụ thi Hương, trúng tứ trường (3). Lấy ba vợ, sinh một trai (4), bốn gái (5). Mất ngày 27 tháng mười, thọ         tuổi, hiệu
táng tại A Bao Cung.

--------------------------
(1) Phả cũ chép là con thứ tư, vì kể cả hàng gái. Nay cải chính lại.
(2) Xin coi lại chỗ chua ở đời thứ chín.
(3) Tức là Hương cống, cũng như cử nhân bây giờ.
(4) Cụ Thái Lĩnh
(5) Coi chỗ phụ lục ở đời thứ mười một.

          Bình sinh cụ là người hách dịch, dữ dội, vì chút việc riêng giận nhau với bà cả, người làng Láng (Yên Láng), liền đất với làng ta, cụ bèn cấm người làng ta không được sang Láng xem hội hôm làng đó vào đám, song cụ sai làm trò ở chợ ta cho người làng coi. Vậy mà người làng ta không ai dám sang Láng xem nữa.
          Cụ chơi thân với cụ Đại Vương ở làng Mỗ (Đại Mỗ), chợt nhớ đến bạn, đang đêm cụ đi vào chơi. Tới nơi lấy dùi đồng đập cửa thình thình. Cụ Đại Vương nghe tiếng, cười mà rằng : “Chắc là bác Cống Cót ta rồi ! Người nhà đâu ? Mau ra mở cửa, kẻo vỡ mất cửa !” Vào nhà, cụ ngồi chơi nói vài câu chuyện, rồi lại đi đêm mà về. Đó, cái ngông của cụ đại loại là như thế.
          Trong cuốn Bạch Liên Khảo có chép rằng : “Bình sinh cụ có tiếng là người thanh cao”.

CÁC CỤ BÀ
(Ba vợ cụ Thì - Trung)
1. Cụ Cả :
          Cụ họ Doãn, hiệu là Trinh - Thuận, người làng Yên Lãng (Láng), huyện Hoàng Long, con cụ Huyện - Thừa (1) người huyện Yên Mô (2), sinh một gái (3); mất ngày 21 tháng 10, tang tại xứ Thiên Tôn, gần bãi Đình Hát.
2. Cụ Hai
          Cụ họ Nguyễn, hiệu là Trinh Cố, người làng Phương Bản (Trầm), phủ Quốc Oai, Tỉnh Sơn Tây, sinh một gái (4); mất ngày 20 tháng 10, táng tại A- Bao - Cung (trên gò con Thổ, ngoài đám ruộng Trổ - Độc).
3. Cụ Ba
          Cụ họ Nguyễn, hiệu là Trinh Từ, cùng người làng Phương Bản (5), sinh một trai (6), hai gái (7); mất ngày 21 tháng giêng, táng tại A- Bao - cung (đối ngang với cột trụ cổng vào chùa Láng).

______________
(1) Không rõ tên là gì.
(2) Thuộc phủ Trường - An, Tỉnh Ninh Bình.
(3) Tên hiệu là Minh Thuận.
(4) Tên hiệu là               ; lấy chồng họ Nguyễn người làng ta.
(5) Khoảng đời Thiệu - Trị họ đó chỉ còn có ba suất đinh.
(6) Tức cụ Thái - Lĩnh.
(7) Con gái út hiệu là Từ Thận lấy chồng họ Nguyễn người làng ta. Con gái lớn hiệu là                           lấy chồng làng Trầm.
          Cụ Trinh - Từ, thuở trẻ nghèo khổ, phải đi cấy mướn ở làng ta. Cụ Cống thấy, bằng lòng, bèn mượn người làm mối, lấy làm vợ thứ ba. Tính cụ Cống ta rất nghiêm khắc và sạch sẽ. Cụ Trinh - Từ lại vụng về, cơm thường chẳng lành, canh thường chẳng ngon. Cụ Trinh - Cố, vợ thứ hai, vẫn phải che đậy giùm cho, nên cụ Trinh - Từ mới ở được. Sau cụ sinh được cụ Thái Lĩnh, nối dòng thư hương; cái công đức kia tưởng cũng chứa chất đã lâu vậy.


PHỤ LỤC
ĐỜI THỨ MƯỜI

a) Con trai cả cụ Phúc An
b) Con trai thứ cụ Phúc An.






















ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT
Đên đây  hãy coi chi của chúng ta  băt đầu vì : Cụ Cống Hoàng thì Trung sinh ra được một mình cụ Thái Lĩnh .Sau cụ Thái Lĩnh sinh ra được 3 trai là cụ Thống Chí ( cụ Quảng) là trưởng (thuộc chi ông Hoa Bằng tức Hoàng thúc Trâm) ,cụ Đốc trực Hiên(Cụ Bình ) là thứ hai ,và cụ Hoàng thì Hoà (cụ Hà Hận)là thứ ba.Vì vậy về mặt số hoá,cụ Thái Lĩnh được coi là số 1
Số1
Cụ Thái Lĩnh
( mộ cụ chôn ở Cửa Đình trên gò Con Mộc) :
Tri huyện đời nhà Lê.
Cụ tên là Thì Chính, lại có tên khác là Trạo, tự là ............... con cụ Cống Thì Trung và cụ Trinh Từ, em bà Minh Thuận (khác mẹ) em ruột là Từ Thận và bà nữa.
Khi 26 tuổi cụ đi thi Hương, trúng tam trường; 41 tuổi thi Hương, trúng tứ trường; thi Hội trúng tam trường, làm chức giảng dụ (1), cẩn sự tá lang, ngồi tri huyện tại huyện Hội Ninh (Hội Nguyên Nghệ An ). Lấy hai vợ, sinh ba trai (3), năm gái (4); mất ngày mồng 6 tháng bảy, thọ 58 tuổi, hiệu là Thái Lĩnh, táng ở Cửa Đình (trên cái gò hình con mộc).
Hàng năm vào ngày giỗ cụ Hoàng thì Hoà (hiệu Hà Hận) 10 tháng giêng các con cháu của cụ đều ra gò con Mộc trước cửa đình để chăm nom phần mộ của cụ Thái Lĩnh
Đến năm 2004 cánh đồng làng yên Hoà  bị nhà nước lấy làm dự án xây dựng khu đô thị mới, mồ mả phải di chuyển tạm về hai nơi nghĩa trang Mỏ Quang và Chùa Đồng (còn gọi là khu mộ Ông án). Mộ cụ Thái Lĩnh cũng nằm trong số phận di rời. Chịu trách nhiệm di rời này là chi trưởng nay là chi của cụ Hoàng mạnh Lãng   Nhưng thật đáng buồn chi của cụ Hoàng Mạnh Lãng  hiện nay đang ở đất thờ tổ năm mười đời nhưng không đoái hoài gì đến mộ tổ naỳ  cả..Con ông Lãng là Hoàng Mạnh Cường tuy đỗ đến kiến trúc sư, nhưng cũng không hề quan tâm. Cuối cùng có bà.Nguyễn thị Dũng.con dâu của cụ Hoàng thúcTrâm đứng lên lo liệu thật cũng phúc đức còn có người con dâu như vậy.
Cụ Hoàng Thúc Trâm là một nhà sử học ,tác giả của cuốn sử Quang Trung – Lê Lợi, xuất bản vào những năm 1950. Còn con trai Ông Trâm là Hoàng Khiêm cũng học giỏi đi bộ đội chống Mỹ ,năm 1975 xuất ngũ về làm nghề viết báo thuộc bản tin đối ngoại của Bộ Ngoại Giao Viẹt Nam.
Trong quá trình bà vợ ông khiêm cho người di dời mộ cụ Thái Lĩnh ở gò con Mộc về Láng Đồng thì không thấy một ngôi nào và không biết tiểu sành bị trrôi đi đâu mất. Nàng dâu có tâm huyết này đi tìm thầy ngoại cảm để tìm thì đào lên được tiểu ở gần đấy nhưng có phải cụ Thái Lĩnh không thì không ai giám chắc. Cụ Hoàng Bi con thứ hai của cụ Hoàng Hùng thì nhất quyết không nhận đó là mộ của cụ Thái Lĩnh nên không ra lễ. Có lẽ con cháu chi Đồng Hạ sau naỳ không có gì xuất chúng phải chăng là không giữ được mộ của tổ chi mình?


  
___________
(1)  Trong tập Thiên - Nam dự - hạ nói chức huấn đạo và giảng - dụ đều là
       chánh - bát - phẩm.
(2)  Nay là Huyện Hội - Nguyên, thuộc phủ Tương - Dương, tỉnh Nghệ An
(3) Trưởng là cụ Thông - Trí, thứ hai là cụ Đốc Trực - Hiên thứ ba là cụ Hà Hận.
(4) Trưởng hiệu là Từ - Minh, thứ hai hiệu là.......
      Thứ ba hiệu là Diệu - Trí, thứ tư hiệu là ........
      Thứ năm hiệu là Cần Đốc.
      Muốn biết cụ nào lấy ai, thì coi ở đời thứ mười hai.


           Cụ Hoàng Thời Chính, đời 11, hiệu Thái Lĩnh, học rộng nhớ nhiều thi Hương, đỗ Cử nhân, thi Hội, trúng Tam trường tức Phó bảng, nhận chức Giảng dụ; Cẩn sự tá lang, Tri huyện Hội ninh, nay là Hội nguyên, phủ Tương dương, tỉnh Nghệ An.
Khi thi, quan chấm thi hạch (1) hỏi mười tám điều trong bộ Uyên - Giám - Loại hàm và vài đề trong sách Tinh - Lý tinh hoa, cụ trả lời trôi chảy, không sai sót điều nào; quan chấm thi trầm trồ khen lắm.
          Cụ là người rất nhân hậu. Gặp khi dân họp bổ thuế, cụ thường cáo bịnh, từ chối không dự. Quan viên trong làng sai người mời mái. Và cụ bà sinh ra cụ cũng bảo cụ rằng :”Sao con không ra họp để cho già này được ăn miếng thịt phần biếu ?” Cụ bèn sai mua thịt để mẹ sơi. Rồi dã lá đậu ván, xoa khắp mình, bấy giờ mới ra họp, song không ăn cỗ. Người nhà hỏi cớ làm sao, thì cụ bảo rằng : Họp nhau bổ thuế, bầy ra chè chén linh đình, một miếng đũa gáp mười nhà mất tiền, cho nên ta không nỡ ăn”.
          Khi cụ chưa đỗ, đêm nằm mộng thấy một người đàn bà mặc quân áo vàng đến giục cụ về mau, không thì đền miếu ngày một đổ nát. Trong lúc chiêm bao cụ trả lời rằng :”Người ta có ba việc lớn :Một  là báo hiếu cha mẹ, hai là sinh con trai nối dòng dõi; ba là được “dạ” (1) một tiếng ở cửa trường cho bõ cái công đèn sách. Trong ba điều đó chưa được cái gì, về làm chi vội ?” Người ấy bèn từ giã mà đi.
          Sau đó vài năm, cụ đỗ hương cống, sinh được các cụ Thông - Trí, lại nằm chiêm bao thấy người đàn bà trước đến nói rằng :”Trước kia ngài ước ba điều, nay đã được cả rồi, vậy xin phải về đi thôi”. Cụ nói “Về thì về, nhưng muốn để cho con cháu được hết lòng nuôi nấng, ngõ hậu chúng khỏi băn khoăn.
          Về sau, cụ chỉ có chứng da bụng dần dần dày lên, thuốc chữa không khỏi, vài năm thì cụ mất. Khi hấp hối cụ dối lại rằng :”Tiếng cả nhà không, thẹn cầm bút mà nói chuyện chia của”.

___________
(1) Thi sát hạch trước kỳ thi hương để loại bớt người kém.

Chỉ mong các con cố học, làm nên, ta đây chết cũng như sống”. Sau khi đã cất tiếng “than ôi ! thì hết chuyện rồi!” (Sau cụ Trực Hiên người con thứ hai của cụ đỗ cử nhân có làm câu hát bằng quốc văn để nối vần mấy câu trối trăng đó :”Nghe nhời di chúc một hai, khoa Đinh - Mão Sơn tây trường ứng thí, bảng treo lên tên đỗ thứ ba, cơ đồ quang rạng nghiệp nhà !”.)
          Bạch - liên - khảo - chí có chép rằng :Bình sinh cụ có âm đức lắm. Cha con ông cháu, bốn đời cùng đỗ, cửa nhà ngày một vẻ vang. Cái ơn phúc cụ không phải là ít.

các cụ bà
(Hai vợ cụ Thái - Lĩnh)

1. Cụ Cả :
          Cụ họ Nguyễn, hiệu là Trinh - Tịnh người làng ta, con cụ Huyện (1) ngồi huyện Xuân - Lan (2) ngày xưa sinh bốn gái (3); mất ngày 29 tháng giêng, táng tại Bờ Nền (giáp bờ ruộng).

2. Cụ Hai :
          Cụ họ Hoa (4), tên là Hậu, hiệu là Trinh Cần, con của cụ Đoan Thiện (5) và của cụ Nguyễn Thị Từ Lương, người làng Cổ Nhuế (Làng Noi), sinh ba trai (6), một gái (7); mất ngày mồng 9 tháng năm; thọ 80 tuổi, táng tại xứ Chùa Đồng (góc ruộng hình con mộc).
          Cụ tính hiền lành phúc hậu, thích bố thí, rất có âm đức và làm nghề thủ công thu được vài ba đồng kẽm trở lên, thì bỏ riêng vào cái ống tiền để dành cho kẻ ăn mày. Bởi vậy ngày nào ăn mày cũng đến. Một hôm ăn mày đến vừa gặp lúc trong ống hết tiền, không có mà cho. Ăn mày không tin, cố nài xin mãi. Cụ bèn thề để tỏ lòng không tiếc.
____________
(1) Không rõ tên họ là gì
(2) Thuộc phủ Tiên Hưng, tỉnh Nam Dinh
(3) Trưởng hiệu là Từ Minh, thứ hai hiệu là ....
          thứ ba hiệu là Diệu Trí, thứ tư hiệu là ....
          Xin coi chỗ chép ở đời thứ mời hai thì sẽ rõ.
(4) Nay đổi là họ Văn
(5) Làm phú sinh ở phủ ta, hồi triều Lê được phong làm tự thừa.
(6) Xin coi lại chỗ chép về cụ ông
(7) Hiệu là Cần Đốc

Phụ lục

a) Con gái cả cụ Cống Thì Trung:
          Cụ hiệu là Minh Thuận, con cụ Công Thì Trung và cụ Trinh Thuân, chị cụ Thái Lĩnh và các cụ Từ Thận.
b) Con gái thứ hai cụ Công Thì Trung:
          Cụ hiệu là                      , con cụ Công Thì Trung và cụ Trinh Cô, em cụ Minh Thuận, chị cụ Thái Lĩnh và các cụ Từ Thận.
          Cụ lấy cụ Dụng Tân, hương công đời Lê, con trai cụ huyện (1) họ Nguyễn ở làng ta, sinh được hai trai, một gái.
c) Con gái thứ ba cụ Công Thì Trung:
          Cụ hiệu là                      , con cụ Công Thì Trung và cụ Trinh Từ, em bà Minh Thuận và bà con gái thứ nhì, em ruột cụ Thái Lĩnh, chị ruột cụ Từ Thận.
          Cụ lấy cụ Nguyễn Bát, sinh đồ đời Lê, người làng Phương Bản (Trầm), sinh được ba gái, năm trai: ba trai thì đỗ sinh đồ triều Lê, hai trai  - thì làm xã trưởng (lý trưởng). Khoảng đời Thiệu Trị nhà Nguyễn (1841-1847) hiện còn ba chi vừa trai vừa gái. Cháu ba đời cụ là Nguyễn Đình Thân được làm đội trưởng hồi đời Thiệu Trị.
d) Con gái thứ tư cụ Công Thì Trung:
          Cụ hiệu là Từ Thận, con cụ Công Thì Trung và cụ Trinh Từ, em cụ Minh Thuận, cụ chị hàng thứ hai, em ruột cụ Thái Linh và cụ chi hàng thứ ba.
          Cụ lấy cụ Nguyễn Thế Vi, sinh đồ triều Lê, người làng ta, sinh bốn trai hai gái, mất ngày mồng một tháng giêng, thọ 84 tuổi, táng tại Bờ Hữu.
_____________
(1) ngồi huyện Lập Trạch ngày xưa



đời thứ mười hai

          Cụ Thông Trí(số11), quan viên tử, tú lâm cục đời Lê.
          Cụ tên là Quảng, lại có tên khác là Thị Vạn, tự là Phủ Xương, con trưởng cụ Huyện Thái Lĩnh và cụ Trinh Cần, anh ruột cụ Đốc Trực Hiên và cụ Hà Hận, em các cụ Từ Minh, anh ruột cụ Cần Đốc.
          Cụ sinh năm Cảnh Hưng thứ ba mươi (1770) đời Lê Hiển Tôn, lấy ba vợ, sinh bốn trai (1), hai gái (2); mất ngày 12 tháng 11 năm Quý Mão niên hiệu Thiệu Trị thứ ba (1843), thọ 73 tuổi, hiệu là Thông Trí, táng tại Láng Đồng. Sau mộ cụ dời đến xứ Cửa Đình, cạnh mộ cụ Thái Lĩnh và hợp táng với cụ bà.

________
(1) Trưởng là cụ Thì Định, thứ hai là cụ Thì Thị, thứ ba là cụ Huy Tích, thứ tư là cụ Thì Khắc
(2) Trưởng hiệu là Từ Huy, thứ hai là .... các cụ lấy ai, xin coi chỗ phụ lục ở đời thứ mười ba.


          Thưở bé cụ cam mắt, thầy thuốc chữa lầm, đến nỗi thành tật (1). Tư chất cụ thông sáng, cụ Thái Lĩnh thường đem những ngoại thư dạy cụ, cụ đọc (*) xong một lượt thì nhớ ngay.
          Lớn lên, vóc người vạm vỡ, ai trông thấy cũng biết cụ là người phúc hậu. Tính cụ ngay thẳng chắc chắn, trị nhà nghiêm và có phép.
          Sau khi cụ huyện Thái Lĩnh đã mất, nhà nghèo, thế mà một mình cụ gánh vác mọi việc: trên thờ mẹ già, dưới nuôi các em, khiến cho con cháu làm nên được (2). Cái công đức ấy thật không bao giờ quên.
          Khi cụ gần mất, không hề đau yếu gì cả, hôm trước chỉ hơi kém ăn mà thôi. Bấy giờ cháu trưởng cụ là cụ Bật Trai đỗ tú tài. Tin mừng báo đến, cụ vẫn cười nói nhưng, tắm gội, mặc quần áo, đợi cụ Bật Trai tan tiệc vọng dân rồi cụ bèn mỉm cười mà tắt nghỉ.
_________
(1) Cụ bị mù (H.T. Tân)
* Không biết chính cụ đọc hay có người đọc cho cụ nghe, vì câu trên cụ bị đau mắt và chữa nhầm thuốc nên mang tật loà mù (H.T.Tân)
(2) Vì cụ bị loà nên phải làm nghề bói toán, do đó cụ có biết hiệu là cụ Thầy (H.T.Tân)

Các cụ bà
(Ba vợ cụ Thông Trí)

I. Cụ cả:
          Cụ họ Nguyễn, hiệu là Cần Mẫn, người làng Thác Quả, huyện Đông Ngạn, tỉnh Bắc Ninh, con cụ Thuần Vượng và cụ Diệu Dung, cháu cụ Phúc Thành, sinh năm Cảnh Hưng thứ 27 (1770) đời Lê Hiển Tôn, đẻ được bốn trai, hai gái (1) mất ngày 24, tháng 4 năm Canh Tuất, niên hiệu Tự Đức thứ ba (4-6-1850), thọ 79 tuổi, hợp táng với cụ ông tại Láng Đồng (rồi dời đến Cửa Đình).
          Thửa bé, cụ mồi côi, nghèo khó lưu lạc sang làng ta, rồi tự lấy cụ Thông Trí. Con cháu làm nên, nhà cửa ngày một quang rạng. Khi cụ Đốc Trực Hiên làm  tri phủ Từ Sơn, cụ Thông Trí có nói đến cảnh hàn hồi đó. Bởi vậy, trong làng Thạc Quả, nhiều người được nhờ ơn. Mỗi khi cụ Cần Mẫn về chơi bên Thạc Quả, người làng ấy bèn báo tin cho cả làng ra đón cụ ở bến sông. Cái công đức thầm lặng là thế đó.

II. Cụ Hai:
          Cụ họ Nguyễn, hiệu là Dị Chất, cũng người làng Thạc Quả, sinh được một trai (tên gọi Hoàng Chất, nhưng mất sớm).
          Cụ mất ngày ...
III. Cụ Ba:
          Cụ họ Doãn, hiệu là Thiên Hương, người làng Hương Đô (nay đổi thành Phú Đô), tổng Đại Mỗ, mất ngày 12 tháng 11, hợp táng với cụ Dị Chất và cụ Hoàng Chất tại trên cái gò con thổ ở Chùa Đồng.

___________
(1) Xin coi lại chỗ chép về cụ Ông

PHỤ LỤC
(ĐỜI THỨ MƯỜI HAI)

 Cụ đốc trực Hiên (số12):
          Cụ tên là Thì Bình, con thứ hai cụ Thái Lĩnh và cụ Trinh Cần, em ruột cụ Thông Tri, anh ruột cụ Hà Hận và cụ Cần Đốc, em cụ Từ Minh.
          Người cụ to lớn đẫy đà, tính cụ mộc mạc ngay thẳng. Thủa bé, cụ học người cậu là cụ Nội Hàn họ Hoa, người làng Cổ Nhuế. Khi lớn, cụ học cụ Hoàng Giáp họ Hoàng (1), người làng Bối Khê. Gặp cuộc binh tranh triều Tây Sơn hàng hơn hai mươi năm, thế mà cụ vẫn không ngừng đèn sách.
          Học súc tích, văn hùng hồn, cụ đỗ cử nhân thứ ba, tại trieu Sơn Tây năm Đinh Mão, niên hiệu Gia Long thứ sáu (1807), được bổ làm tri huyện, huyện Nghi Dương (2), rồi thăng tri phủ, phủ Từ Sơn (3), lại ngồi đốc học ba tỉnh: Bình Thuận, Vĩnh Long và Thanh Hoá, được cáo phong làm Phụng Nghị Đại Phu rồi về hưu.
          Học trò cụ nhiều người làm nên: các ông Mai Anh Tuấn, thám hoa, Phan Thanh Giản, tiến sĩ và Nguyễn Nhật Ái, tiến sĩ, đều là môn đồ cụ cả.
          Cụ mất ngày 11 tháng 12 năm Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ hai (1848), thọ 75 tuổi, tên hiệu là Trực Hiên, tên huý là Đoan Trực, táng tại bờ gò con Thổ, giống hình người tiên, ở làng ta.Tiến s Phan thanh Giản học trò ngoan của cụ khi ra làm quan thượng thư triu Nguyn đã đến thăm và xin cụ cho phép làm lễ tế sống để nhớ công ơn dậy dỗ của cụ
          Cụ sinh được bẩy trai.
______________
(1) Không rõ tên là gì
(2) Thuộc tỉnh Hải Dương
(3) Thuộc tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc tỉnh Hà Bắc)

          Cụ Hoàng Than sinh ông  Kham và ông Đường
          Cụ Hoàng Quân sinh ông  Huân

2. Vợ thứ hai của cụ Đốc Trực Hiên:
          Cụ họ                    , sinh bốn trai:
một là Học, không có con, hai là Hoằng, Hoằng sinh Yến và Tấn, ba là Hoàng Đại, Đại sinh Tuyển, Tư là Đống, Tuyển sinh Hoán ... bốn là Hoàng Biểu, Biểu sinh Trù.
          Đó là các chi thứ   .


-------------------------------------------------------------------------------------------

















Cành của chúng ta coi như bắt đầu từ đây ,Và cũng bắt đầu từ đây tôi là Hoàng Hiển chép lại và bổ sung cuốn gia phả này,để các con cháu về sau noi theo và ghi tiếp.
Ghi phả là ghi những điều tốt những gương tốt để các con cháu đọc và noi gương ,phát huy truyền thống của cha ông mà phấn đấu trong mọi lĩnh vực học tập công tác của mình làm rạng danh thêm công đức của tổ tông.
Tạm tóm tắt từ cụ tổ họ Hoàng đến chi cành chúng ta như phả h đồ phần phụ lục  sau đây: ( Xem phả hệ đồ )
Trước khi ghi tiếp cháu cũng xin phép các cụ cao cao tằng tổ được nhắc các con cháu những điều sau đây của một Thiền sư  để các con cháu suy nghĩ và hành động trong cuộc sống của đời mình:

                             Sống
Sống không giận,không hờn ,không oán trách,
Sống mỉm cười với thử thách chông gai
Sống vươn lên theo kịp ánh ban mai
Sống an hoà với những người chung sống
Sống là động nhưng lòng luôn bất động
Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương
Sống hiên ngang danh lợi xem thường
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến

 7 điều khuyên như sau
1/Tâm mà không sáng thì theo phong thuỷ cũng là vô ích.
2/Bất hiéu với bố mẹ thì thờ phụng có nghĩa gì ?
3/ Bất hoà với anh em thì bằng hữu để làm chi
4/Chỉ nghĩ đến mình thì thông minh cũng vô ích.
5/Làm việc ác thì đọc sách cũng bằng không
6/ Không nắm được thời cuộc thì mưu sự cũng không thành.
7/ Không giữ được nguyên khí thì thuốc tốt mấy cũng vô hiệu



CỤ HÀ HẬN (SỐ7): ĐỜI THỨ 12
(Cành nhà ta có thể coi như bắt đầu từ đây, hàng năm con cháu vẫn tập trung vào ngày 10 tháng giêng tại nhà ông Hoàng Mẫn để đi tảo mộ và giỗ cụ. Cũng bắt đầu từ đây, để dễ phân biệt cấp bậc trong Hoàng tộc của cành nhà ta mọi người đã thống nhất ghi số thứ tự cho từng người. Cụ là thứ  3 ,lẽ ra cụ được mang số 3 Nhưng không hiểu tại sao cứ gọi là cụ Bẩy ,nên đành phải lấy số 7 và cũng là để con cháu cành ta nhớ tới cụ sinh ra cành chúng ta là cụ Bẩy)

          Cụ tên là Thì Hoà, con thứ ba cụ huyện Thái Lĩnh và cụ Trinh Cần, em ruột cụ Thông Trí và cụ Đốc Trực Hiên .Cụ là thứ ba nhưng không hiểu tại sao trước tới nay vẫn gọi là cụ Bẩy mất ngày 10 tháng giêng, táng tại Ngõ Quân. Sau rời về gò Chân Tiên  bên cạnh mộ ông Kính. Cụ lấy hai vợ.

CÁC CỤ BÀ
(Hai vợ cụ Hoàng thì Hoà)

1. Cụ Bà thứ nhất :
          Cụ họ Nguyễn............(73b1), hiệu là Trinh Khiết, mất ngày 24- 10 sinh bốn trai,
-Trưởng là Thì Nhị ( 731) hiệu là Quả Đoán (mất sớm) ,
-Thứ hai là Thì Mỹ(732),hiệu là Thông Duệ (mất sớm )
-Thứ ba là Thì Trang(733),
Cả 3 cụ đầu đều không có con ,
-Thứ tư là Hoàng Nghiêm.(số734)
          Cụ Hoàng Nghiêm  có  2 bà:
          Bà Cả họ Nguyễn hiệu là Thuần Thục mất ngày 21-5
          Bà hai họ Cao hiệu là An Nhân mất ngỳa 12-4
Cụ nghiêm  sinh ba trai:
-Trưởng là Hoàng Trinh(7341), hiệu là Đoan Túc ( Cụ Từ ) mất ngày 20-7. Cụ Hoàng Trinh sinh ra cụ  Hoàng Thái (73411),hiệu là Vĩnh Tồn mất ngày 27-8 lúc 20 tuổi
-Thứ hai là Hoàng Trai (7342),  Hiệu là Thuần Trang mất ngày 12-4,
Cụ Trai sinh ra cụ Hoàng Kính (73421)(thường gọi là Ông Cánh) hiệu là Mệnh Cung mất ngày 26-12  Cụ Kính sinh ra  cụ Hoàng Mẫn. Mộ cụ Trai đặt ở Gò Chân Tiên. Vợ cụ Kính là Nguyễn thị Nứa mất ngày 27-9
Vợ cụ Trai người họ Nguyễn hiệu là Diệu Giản mất ngày 1-9
 -Thứ ba là Hoàng Nghiễm (7343) hiệu là Cần Phong ( Cụ phó ba). Cụ Mất ngày 6-10 táng tại gò Mả Diều sau do nhà nước lấy đất làm dự án nên phải dời vể nghĩa trang Mỏ Quang Cụ Nghiễm sinh Nhã (73431), Hùng (73432), Dũng (73433), Niết (73434), ...
          Đó là chi trưởng.
2. Cụ bà thứ Hai:
          Cụ Nguyễn thị Hiệu (73b2), hiệu là Trinh Thiết  mất ngày 8 tháng 1 âm lịch hiện nay ở mộ xây Cửa Đình .Cụ sinh được: Một trai là Hoàng Khánh(735). và một Gái là Hoàng Thị Còi ( 736G) mất ngày 30-9
- Thứ năm Cụ Hoàng Khánh(735) hiệu là Thanh Đốc, Còn có tên là Hoàng phúc Hiên. mất ngày 19-10. Cụ bà là Nguyễn thị Chinh An (735b) mất ngày 18-10.  Cụ sinh ra Cụ Hoàng Độ (7351) mất ngày 14-8. Vợ Cụ Hoàng Độ là cụ Nguyễn thị Hưởng mất ngày 16 tháng 11 âm lịch không có con trai ,chỉ có 3 con gái (bà Hai Cầu ,bà Chương Cảnh ,Bà Hương Hè) Sau này Cụ Hoàng Niết ăn thừa tự để làm giỗ vào ngày 14 tháng 8 âm lịch hàng năm.
Thứ sáu Cụ Hoàng thị Còi  còn nhỏ chưa có gia đình mất ngày 30-9 ( Bà cố tổ )
C. Con gái cả cụ Thái Lĩnh: (Chị em với cụ Hoà)
          Cụ hiệu là Từ Minh, con gái cả cụ Thái Lĩnh và cụ Trinh Tịnh, là chị của các cụ Thống Trí, Trực Hiên, Hà Hận và bà Diệu Trí.
          Cụ lấy lẽ cụ Nguyễn Duy Lệ, làm phó sứ sở Vĩnh Hưng, con cụ Duy Nghiêm, tri huyện huyện Cảnh Thuần (1) hồi đời nhà Lê, người làng ta.
          Cụ sinh được hai trai, hai gái, mất ngày 16 tháng 9, táng tại Đồng Quan.
D. Con gái thứ hai cụ Thái Lĩnh:
          Cụ hiệu là                        , con gái thứ hai cụ Thái Lĩnh và cụ Trinh Tịnh, chị các cụ Thông Trí, Trực Hiên, Hà Hân, em ruột cụ Từ Minh, chị ruột các bà Diệu Trí và bà con gái thứ tư và bà Cần Đốc.
          Cụ lấy cụ Nguyễn Quốc Trinh, sinh đồ đời Lê, người làng ta.
          Cụ sinh hai gái.
___________
(1) Thuộc Phủ Trấn Ninh Tỉnh Nghệ An


E. Con gái thứ ba cụ Thái Lĩnh:
          Cụ hiệu là Diệu Trí, con gái thứ ba cụ Thái Lĩnh và cụ Trinh Tịnh, chị các cụ Thông Trí, Trực Hiên và Hà Hận, em ruột cụ Từ Minh và cụ chị hàng thứ hai.
          Cụ lấy lẽ cụ Trần Đình Thức, nho sinh đời Lê, người làng ta, sinh một gái và một trai, tên gọi Đình Khiêm, mất ngày 24 tháng chạp, táng tại Đồng Quan.
F. Con gái thứ tư cụ Thái Lĩnh:
          Cụ hiệu là                        , con gái thứ tư cụ Thái Lĩnh và cụ Trinh Tịnh, chị các cụ Thông Trí, Trực Hiên và Hà hận, em ruột cụ từ Minh và các cụ Diệu Trí, lấy chồng họ Quản, người làng ta, sinh một trai.
G. Con gái thứ năm cụ Thái Lĩnh:
          Cụ hiệu là Cần Đốc, con gái thứ năm cụ Thái Lĩnh và cụ Trinh Cần, em ruột các cụ Thông Trí, Trực Hiên và Hà Hận, lấy cụ Nguyễn Quốc Thanh, trúng tam trường thi hội, làm đốc học tỉnh Vĩnh Long, người làng ta.
          Cụ sinh hai trai và bốn gái. COn trai cả cụ tên là Văn Tĩnh, con trai thứ tên gọi Văn Sáu. Trong bộ gái đó, một người lấy chồng họ Ngô, Tri phu, người làng Nhật Chiêu, một người lấy viên Kiểm Thao, người láng Phú Mỹ, một người lấy cụ Thông Trúc, người làng ta.
          Cụ mất ngày 4 tháng 4, táng tại Đồng Quan.

ĐỜI THỨ MƯỜI BA
CỤ HOÀNG NGHIÊM
          Cụ Hoàng Nghiêm  có  2 bà:
          Bà Cả họ Nguyễn hiệu là Thuần Thục mất ngày 21-5
          Bà hai họ Cao hiệu là An Nhân mất ngàỳ 12-4
Cụ nghiêm  sinh ba trai:
-Trưởng là Hoàng Trinh(7341), hiệu là Đoan Túc ( Cụ Từ ) mất ngày 20-7. Cụ Hoàng Trinh sinh ra cụ  Hoàng Thái (73411),hiệu là Vĩnh Tồn mất ngày 27-8 lúc 20 tuổi
-Thứ hai là Hoàng Trai (7342),  Hiệu là Thuần Trang mất ngày 12-4,
Cụ Trai sinh ra cụ Hoàng Kính (73421)(thường gọi là Ông Cánh) hiệu là Mệnh Cung mất ngày 26-12  Cụ Kính sinh ra  cụ Hoàng Mẫn. Mộ cụ Trai đặt ở Gò Chân Tiên. Vợ cụ Kính là Nguyễn thị Nứa mất ngày 27-9
Vợ cụ Trai người họ Nguyễn hiệu là Diệu Giản mất ngày 1-9
 -Thứ ba là Hoàng Nghiễm (7343) hiệu là Cần Phong ( Cụ phó ba). Cụ Mất ngày 6-10 táng tại gò Mả Diều sau do nhà nước lấy đất làm dự án nên phải dời vể nghĩa trang Mỏ Quang Cụ Nghiễm sinh Nhã (73431), Hùng (73432), Dũng (73433), Niết (13434), ...

ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN

Cụ Hoàng Nghiễm (7343) hiệu là Cần Phong ( Cụ phó ba). Cụ Mất ngày 6-10 táng tại gò Mả Diều sau do nhà nước lấy đất làm dự án nên phải dời vể nghĩa trang Mỏ Quang Cụ Nghiễm sinh Nhã (73431), Hùng (73432), Dũng (73433), Niết (73434), ...

Cụ Cương Mẫn là xã trưởng

          Cụ tên là Thì Định, tự là                               , con trưởng cụ Thông Trí và cụ Cần Mẫn, em ruột cụ Trực Phương, cụ Khắc Trai, cụ Cương Quả, và các bà cụ Tư Huy ...
          Cụ sinh nhằm giờ mùi, ngày 6 (1), tháng chín năm Tân Hợi, niên hiệu Quang Trung Thứ tư (1791), làm xã trưởng làng ta, lấy một vợ sinh một trai (2) và một gái (3), mất ngày 2 tháng 4 năm 1827, * thọ 36 tuổi, táng tại Cửa Hàng (ngoài quán Mả Tre).
          Cụ là người dào dật, cứng mạnh, không chịu khúm núm ai cả. Khi cụ làm xã trưởng, người làng ai cũng kính sợ. Cụ có trồng nhiều cây nhãn (4) ở sau đình làng ta để làm cái lợi chung cho làng. Mỗi khi đến mùa nhãn chín, dẫu trẻ con cũng không dám trẩy. Trong làng ta bầy giờ thật có cái vẻ “nhớ kẻ trồng cây” vay. Dọc đường cái trước cửa đình, cụ lại trồng lũy tre để bao bọc cho đất dân ở, đến nay vết cũ hãy còn.
          Lúc trước, cụ Thông - Trí và cụ Trực Hiên, anh em cùng ở chung một nhà tại xóm chợ làng ta. Về sau khi cụ Đốc Trực Hiên làm nên, con cháu đông đúc, chỗ đất cũ không đủ ở, cụ Cương Mẫn bèn cùng với các em là cụ Trực Phương, cụ Khắc Trai, Cụ Cương Quả lập trai ở phía tây làng ta, đón cụ Thông Trí ra ở. Còn chỗ nhà cũ ở xóm chợ thì để nhường cho Cụ Đốc Trực Hiên cư trú (5). Từ đó đến nay, chỗ đất nhà thờ chi ta đời đời giữ mãi mà không dời đổi. Anh em con cháu quây quần cùng ở, càng ngày càng đông đúc sầm uất, trở nên một xóm đẹp đẽ, rộng lớn như bây giờ, chính từ cụ Cương Mẫn ta mở đường trước vậy.

____________
(1) Chính tay cụ Bật - Trai có chua vào phá cũ rằng ; hoặc ngày 16.
(2) Tức là cụ Bật Trai đỗ sáu khoa tú tài.
(3) Tên là Hoàng Thị Thìn
(4) Khoảng đời Tự Đức hãy còn một cây.
(5) Chỗ nhà thờ cụ Đốc Trực Hiên mà ông Huyện Hanh ở bây giờ tức là chỗ đất cũ đấy.
Căn cứ vào tuổi góa chồng của cụ bà (H. T. Tấn).

CỤ BÀ
(Vợ Cụ Cương Mẫn)

          Cụ họ Nguyễn, tên là Tâm, con gái cụ Nguyễn (1), người làng ta.
          Cụ sinh năm Cảnh Thịnh, thứ tư 1796 (Bính Thìn) đời Nguyễn Quang Toan triều Tây Sơn.
          Sau khi lấy cụ Cương Mẫn ta, cụ sinh được một trai hiệu là Bật Trai và một gái tên là Thi Thìn (2). Năm cụ 32 tuổi thì cụ ông mất. Giữa vời gập vận nhà đen, mẹ góa con côi, người hiếm, cửa kiệm, thế mà cụ trên thờ cha mẹ chồng, dưới nuôi con cái, làm tròn bồn phận, tấm gương sáng cho con cháu.
          Tính cụ rất nhu mì, hiền hậu, đêm đông cụ thường trở dậy một đôi lần để kéo áo đắp chân cho các cháu. bấy giờ Thúc Hội tôi đây, lên mười tuổi hơn vẫn còn được cụ yêu dấu và săn sóc.
          Cụ mất ngày 7 tháng hai năm Giáp Thân, Kiến Phúc nguyên niên (1884), hiệu là Trinh Đạt Từ Quang, thọ 89 tuổi, táng tại ruộng công, xứ đường Hạ.
          Khi cụ Trinh Đạt Từ Quang mất, cụ Bật Trai có bàn với học trò mình là ông Trần Khắc Quang, cử nhân, tri phủ người làng Tây Mỗ huyện ta, về việc đặt tên hiệu, rằng : “Mẹ tôi góa chồng từ năm ngoài 30 tuổi, vậy mà chiếc bách lênh đênh, một lòng son sắt, thế há chẳng phải là Trinh sao? Tôi đây đỗ luôn mấy khoa tú tài, không làm nên to được, nhưng gập triều đình sức rằng :”Phàm ai đỗ nhiều lần tú tài, mà tuổi đến bốn mươi, thì được sung chân Cống - Sử vào kinh để Triều Đình bổ dụng. Các quan trên và bạn thân đều cố khuyên tôi nên đi : song mẹ tôi dạy rằng : “Làm quan có số, chứ không nên cố kiếm gượng cầu. Nếu con có danh phận, thì khó gì chẳng làm xong cái cử nhân ? Vậy can gì mà phải cầu cạnh như thế ? Và, mẹ chỉ có một con là trai, sớm hôm dựa dẫn lẫn nhau; nay con chực đi xa mà kiếm công danh, phỏng có đành lòng không hả ?”. Như thế há chẳng là đạt sao ? Khi tôi bế, mỗi buổi học, thế mà mẹ tôi cũng phải mài mực trông cho tôi viết xong đã, rồi mới đi làm việc nhà; như thế chẳng phải là từ sao ? Nuôi nấng cho đến khi tôi đỗ đạt một chút, dẫu chỉ là đỗ nhỏ; thế chẳng cũng là quang sao ? Vậy xin đặt hiệu mẹ tôi là “Trịnh Đạt Từ Quang”.

__________    
(1) Cụ sinh con một bề, không rõ tên hiệu cụ là gì; song chỉ biết rằng nhưng con ông Huyện Hòa là Nguyễn Đình Dương, Nguyễn Đình Đồng v.v... Bất giờ đều là chi họ nhà cụ.
(2) Hiệu là Cần Thành, lấy cụ Nguyễn Văn Sán, người làng ta, sinh một trai là Đình Đạm, một gái là Thị Đinh, Đạm sinh Nguyễn Đình Lương, tú tài khoa Bính Ngọ.

PHỤ LỤC
(Đời thứ mười ba)

A. Con trai thứ hai cụ Thông Trí :
          Cụ tên là Thù Thổ, sau đổi là Thì Thi, tự là Tùy Nghi, con thứ hai cụ Thông Trí và cụ Cần Mẫn, em cụ Cương Mẫn, anh cụ Khắc Trai và cụ Cương Quả.
          Cụ lấy một vợ sinh hai trai :
          Trưởng là Hoàng Tụy, hiệu là Nhân Hiên, tư chất sáng, chữ viết tốt, văn chương đẹp đẽ, sớm nổi tiếng hay chữ. Trước tên là Thoi Tuần, khi đi thi đáng lẽ được đỗ cử nhân, nhưng vì quan trường cho cái tên cụ là không nhã, nên đánh hỏng. Bởi vậy cụ phải đổi tên là Thời Tụy. Sinh được một gái tên gọi Thị Tửu. Năm 25 tuổi thì cụ mất, táng ở Cửa Hàng.
          Con thứ 2 cụ Thì Thi tên là Hoàng Huy Viễn, hiệu là Diệu Hiên, lấy hai vợ, sinh ba trai : Trưởng là Hoàng tất Đạt (1) bụng dạ thì hiếu thảo, văn chương thì bay bướm đẹp đẽ, có tiếng là người học giỏi lắm. Trước tên là Hoàng Quýnh, năm Tân Mão đời Thành Thái, đi thi hương được vào Phúc hạch, vì phạm húy không bớt nén chữ “điều” (  ), nên bị đánh hỏng. Cụ đốc Đinh Gia Chan, thầy học bèn đổi tên cho là Tất Đạt. Khoa Giáp Ngọ, ông Đạt đỗ cử nhân; thi hội,vào đến Tam Trường được bổ làm huấn đạo huyện Yên Thế, sau đổi đi làm huấn đạo tại huyện Hiệp Hòa, được sắc phong Hàn Lâm Kiểm Thảo; mất ngày 26 tháng hai năm Canh Tuất, thọ hơn 40 tuổi, tên Thụy là Đôn Túc, sinh được hai trai (2), một gái (3). Con thứ cụ Diệu Hiên tên là Hoàng Hoè, năm ngoài 20 tuổi thì mất; sinh được một gái (4). Tất Đạt và Hoàng Hoè đều là con vợ cả,
Còn vợ lẽ cụ Diệu Hiên thì sinh được Hoàng Liên, Hoàng Liên sinh Hoàng Như, Hoàng Đệ, Hoàng Doanh, Hoàng Huệ và mấy con gái.
          Đó là chi thứ.
__________
(1) Ông Hoàng Tất Đạt là người đã từng cùng Hội tôi, đồng biên tập bản phả này từ năm Quí Mão niên hiêụ Thành Thái thứ 15 (1903). Trong khi làm đó ông có dày công về việc kê cứu thế thứ truyền nối, phẩm chất các cụ và mọi dật sự. Chẳng may đến ngày 20 tháng hai năm Canh Tuất (1910) đời Duy Tân thì ông mất. Sau đó mọi việc đổi thay, một mình Hội phải tìm kiếm tài liệu mà làm cho trọn. Tiện dịp xin nói ra đây để tỏ không quên cái công của ông Tất Đạt.
(2) Hoàng Dương và Hoàng Thắng.
(3) Hoàng Thị Thư
(4) Tên là Thị Bích, lấy con ông Nguyễn Bính, người làng ta, cùng chị sinh được một gái.

B) Con thứ ba cụ Thông Trí :
          Cụ tên là Huy Tích tự là Cơ Chi, hiệu là Khắc Trai, con thứ ba cụ Thông Trí và cụ Cần Mẫn, em cụ Cương Mẫn và cụ Tùy Nghi, anh cụ Cương Quả.
          Cụ sinh nhằm giờ Mùi, ngày mồng tám tháng chín, năm Bính Thìn, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ năm 1796) triều Tây Sơn. Chất thông sáng, tính hăng hái, khí hào hiệp, thửa bé cụ học cụ Nội Hàn họ Hoa, người làng Cổ Nhuế (Noi), sau học cụ Huyện Hoa Khê (không rõ tên cụ Huyện là gì) ở làng Yên Hòa. Mỗi ngày cụ đi học, cụ Thông Trí sợ cụ chơi bời, bèn sai cụ Cương Quả (em cụ Khắc Trai) đi theo để dò xét. Thấy vậy cụ Khắc Trai thường mua quà bánh đút lót em mình, để có điều gì em đừng về mách cha. Hễ đến kỳ lắm văn, cu liền vào ngồi trong hàng quán làm qua quít cho xong để đưa nộp; thế mà vẫn cứ thường văn được vào hạng khá. Văn cụ chặt chẽ đanh thép, chớ không màu mè phù hoa.
          Khoa Tân Sửu (ân khoa) năm Minh Mệnh thứ hai, khoa Mậu tí năm Minh Mệnh thứ chín, khoa Tân mão năm thứ 12, khoa giáo ngọ năm thứ 15 và khoa Đinh dậu năm thứ 18 đời Minh Mạng, cụ đều đỗ tú tài cả. Tháng mười năm Minh Mạng thứ 19, có chi dụ rằng : “Triều đình còn cần dùng người để bổ làm chứa huấn giáo các nơi. Vậy sắc cho các hạt hễ ai đỗ vài lần tú tài mà tuổi ngoài 40 thì cho vào kinh sát hạch, rồi bổ dụng. Bấy giờ cụ 42 tuổi, theo lệ vào kinh đi hạch, nhưng không trúng (1).

_________
(1) Trong bài văn sách “Tống quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” về đoạn diễn thực cụ được “ưu”. bấy giờ viên chủ khảo, là người huyện ta làm quan kinh trước có tức cụ về việc văn phả hàng huyện và có ý lấy quyên khác, bèn đánh hỏng cụ; song nói giả đò rằng :”Văn chương thế này nên đánh hỏng, để cho hay về thi lấy cử nhân đã”.

          Đến tháng chín năm Bính Ngọ, niên hiệu Thiệu Trị thứ hai, cụ 50 tuổi, lại vào hạch trong kinh, được đâu vào hạng “bình”. Tháng 10 năm đó, được làm Hành tẩu ở bộ Lại. Tháng tư năm Thiệu Trị thứ 7, được bổ đi Huấn Đạo tại huyện Hưng Nguyên (2) (tỉnh Nghệ An). Năm ấy có chỉ dụ rằng “Hễ ai đương ngồi Huấn giáo mà là chân tú tài cũng cho đi thi hội cả.
          Tháng ba năm Mậu Thân, tự đức nguyên niên, mở ân khoa, theo lệ đã sức, cụ vào kinh thi hội, văn thi cũng được nốt đỉm khá. Khi thi xong, vừa khi tiếp được thư ông Vương Công xuân, huấn đạo Lương tai, gửi đến nói rằng cụ bà sinh ra cụ hiện đang đau yếu ở nhà, cần người trông nom thang thuốc. Cụ bèn xin phép nghỉ 1 tháng, về nuôi mẹ. Hạn đó đã hết, cụ lại xin nghỉ để nuôi mẹ cho trọn tuổi già.
          Năm Canh Tuất, niên hiệu Tự Đức thứ ba, cụ Cần Mẫn mất, cụ bèn xin phép ở nhà để chờ cho hết tang mẹ. Bấy giờ cụ đã 64 tuổi, vì đau mắt, nên xin về hưu. Từ đó trở đi ruộng vườn vui thú, cụ yên cảnh già.
          Nhà ta, từ sau khi cụ Thông Trí và cụ Cương Mẫn đã mất, gia giáo vẫn còn nghiêm lắm. Cụ Đốc Trực Hiên và cụ Huấn Khắc Trai, giữa anh em chú cháu, ăn ở với nhau thường như một nhà. Khi cụ Trực Hiên Tri phủ Từ Sơn, ông Hoàng Điều, con thứ cụ, đã đậu Tú Tài, có lỗi, cụ Khắc Trai bèn gửi thư xin phép cụ Trực Hiên, rồi đem ông Hoàng Điều ra đánh đòn tại giữa điếm làng ta. Cụ Khắc Trai đã đỗ mấy khoa Tú Tài, hễ có lỗi cụ Trực Hiên cũng lôi ra đánh đến chảy máu. Thế mà cái lòng hiếu kính vẫn không dám sao nhãng.
          Cụ khắc trai lấy hai vợ (cợ cả hiệu là Tín Nghĩa) vợ lẽ hiệu là Nhu Lương, không được người con nào cả. Sau khi cụ về hưu, cùng với cụ bà là cụ Tín Nghĩa, chăm việc nhà, khéo làm ăn, thành thử giầu có, tậu được vườn ruộng.
_________
(2) Thuộc tỉnh Nghệ An.  

          Cụ lại làm nhà gạch cho anh là cụ Trực Phương, em là cụ Cương Quả và em vợ mình mỗi người một cái. Khi họ ta làm nhà thờ, cụ cung tiến cũng nhiều. Cụ vẫn muốn làm cái nhà thờ, chi ta, để thờ phụng tổ tiên, nên nài ép cháu trưởng là cụ Bật Trai mãi. Xong cụ Bật Trai có ý không muốn. Cụ Khắc Trai bèn cúng một mẫu ruộng để làm hương hỏa. Ông Tĩnh Hiên, anh trưởng của Hội, vì nghèo bèn đem bán mất. Con cháu cụ Cương Quả và bên nhà người em vợ cũng bán sạch cả cái nhà mà cụ đã làm cho. Chỉ có ba gian nhà ngói của cụ Trực Phương và bẩy gian nhà gạch của cụ (1) may vẫn còn cả.
          Trước kia, cụ nghèo quá, quần rách, cực chẳng đã phải tước nhỏ lạt tre để buộc dúm lại. Xong cụ nổi tiếng hay chữ, nên phần nhiều dật mượn của các ông đồ. Khi đi thi cụ lại làm gà văn cho để trừ nợ.
          Một bữa, cụ đi vay người bạn được mười quan tiền. Khi về đến làng Hạ Mỗ, thuộc huyện ta, bấy giờ gập lúc không yên quân cướp tụ họp ở làng đó, thấy cụ có tiền, chúng đổ ra cướp cụ nói :”Ta đây có quen ông chùm phường, các chú, các chú sao dám làm vậy ? mau mau đưa ta đến chơi với chùm các chú nào”. Chúng liền đưa đi, khi thấy anh đầu đảng, cu ngật ngưỡng không tỏ ý kính trọng cho lắm. Hắn bèn quở rằng : “Anh ở đâu đến đây ? không sợ lưỡi gươm của ta ư ?. Cụ đáp : “Các bác không nghe tiếng Đồ Tích ở Cót sao ? Nếu tôi sợ chết, thì đến đây làm gì ? Nay đến đây, không phải là không có ý”. Những quân cướp ở đây thấy đều kính trọng, bèn mời cụ ở lại đánh chén. Khi cụ nói chuyện, đều gì cũng làm chúng phải chịu phục cả. Sáng hôm sau, chúng tiễn tặng tử tế, rồi đưa cụ về.
          Khi cụ làm Huấn đạo, phàm các kiên sự trong hàng huyện đem đến cửa công, cụ đều phân xử cả, đến nối công đường hàng huyện im lặng như tờ. Viên Tri huyện thường thưa với quan trên về việc cụ xâm lấn quyền chức của mình. Cụ cãi lại rằng “Tôi làm chức giáo, phàm đều phải, đều trái, việc nên, việc chăng cải gì cũng là dạy dỗ dân cả, chứ có phải chỉ giảng sách chấm văn mới là dạy đâu ?”. Nghe vậy, quan trên cũng cứ cho phép cụ làm. Quan huyện không cãi lại được và cũng tự thẹn tài mình không bằng. Coi đó, đủ biết cái tính bạo dạn và tài hùng biện của cụ là như thế đấy.
          Cụ dậy học, học trò học đông. Cụ cốt  giảng rõ những nghĩa đáng ngờ, chứ không chịu qua loa cẩu thả. Cụ có làm được quyển “Tiểu học tứ tự” để tiện cho người mới học. Trong bọn học trò làm nên, có ông phủ Ngô Văn Khải ở làng Nhật Chiêu và ông huyện Đoàn Thúc Tiên ở làng Mai Dịch. Vì hiếm hoi, nên cụ thường lo về sự nối dõi. Cụ có câu đối rằng :
          Tuổi ngoài bẩy  mươi, ta như người thường vậy
          May có các bác, thây khỏi chết đường chăng ?
Coi đó, đủ biết cái tình cảnh của cụ là như thế nào ...........
          Ngày 16, tháng 10 năm Canh Ngọ, niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1868), cụ mất, thọ 74 tuổi. Theo quan chế, đặt tên thuỵ là Đôn Doãn, táng tại Vườn thuộc.
          Theo ông Hoàng Tạo kể, trong ngoài làng, xóm có câu “phương ngôn” rằng :
          Sợ mẹ sợ cha không bằng sợ ông Ba Cót

Các cụ bà
(Hai vợ cụ Khác Trai)
10/ Cụ Cả :
          Cụ họ Nguyễn, tên là Bát, hiệu là Tín Nghĩa, mất ngày 29 tháng hai, năm Đồng Khánh thứ hai (1887), thọ 95 tuổi, hợp táng với cụ ông ở vườn thuộc.

-----------------------
Cụ Huấn Hoàng Huy Tích là con thứ ba và ở làng Cót (Hạ - Yên - Quyết)
20/ Cụ Hai :
          Cụ họ Nguyễn, hiệu là Nhu Lương, mất ngày 15 tháng ba, thọ 70, táng tại Chùa Đồng.
C) Con trai thứ tư cụ Thông Trí
          Cụ tên là Thời Khắc, hiệu là Cương Quả, làm xã trưởng ở làng ta, lấy một vợ, sinh một trai, tên gọi Hoàng Sung, tự là Vị Mỹ, hiệu là Thực hiên, cũng làm lý trưởng. Cụ Vị Mỹ lấy vợ họ Kim, tên hiệu là Trinh Từ, sinh ra Hoàng Nhạ. Hoàng Nhạ chỉ sinh được một gái, tên gọi Thi Bo.
D) Con gái trưởng cụ Thông Trí
          Cụ tên là Tư,  hiệu là Từ Huy, con gái trưởng cụ Thông Trí và cụ Cần Mẫn, em các cụ Cương Mẫn, cụ Trực Phương, và cụ Khác Trai, chi bà cụ Năm và cụ Cương Quả.
          Cụ lấy cụ Quản huy Trực, người làng ta, sinh ra Quản Huy Thống, Huy Thống sinh Huy Cơ.
          Cụ mất ngày mồng một tháng tư, năm Tự Đức thứ 34 (1881), thọ 84 tuổi, táng tại Vườn Thuộc.
E) Con gái thứ cụ Thông Trí :
          Cụ tên là Năm, con gái thứ cụ Thông Trí và cụ Cần Mẫn, em gái cụ Cương Mẫn, cụ Trực Phương, cụ Khắc Trai và cụ Từ Huy, chi cụ Cương Quả.
Cụ lấy cụ Nguyễn Vinh, người làng ta, sinh một trai tên gọi Nguyễn Đào.
          Không rõ cụ mất ngày nào và táng ở đâu.

Đời thứ mười bốn
Cụ Bật Trai, đỗ sau khoa tú tài
Cụ tên là Như Cẩn, tự là Tử Hiệt, hiệu là Bật Trai, con cụ Cương Mẫn và cụ Trinh đạt Từ Quang.
Cụ sinh nhằm giờ Sửu, ngày 8 tháng ba năm Ất Hợi, niên hiệu Gia Long thứ 16 (1815). Cụ đỗ sáu khoa tú tài, lấy hai vợ, đẻ bốn trai (1), bốn gái (2), mất hồi giờ Tỵ, ngày hai mươi hai tháng hai, năm Bính Thân, niên  hiệu Thành Thái thứ 8 (1896), thọ 82 tuổi; trước táng tại xứ Đường Cộc đồng làng ta, đến ngày 8 tháng hai, năm Bảo Đại thứ tư (1930) lại dời di ký táng ở bên gò con Thổ tại đồng làng Phương Nhị, thuộc huyện Thanh Trì.
Người cụ hơi thấp, tính cụ thì chắc chắn, kỹ lưỡng, siêng năng, tần tiện và đến nơi đến chốn. Trọn đời không hề nói đùa, hàng ngày đi đứng không hề tỏ dáng chễ nải. Khi cụ Huấn Khắc Trai mất rồi, thì cụ nối làm Văn Trưởng làng ta. Hàng năm, tháng hai, mùa xuân đình làng vao đám, hát xướng luôn mấy ngày, khăn áo chỉnh tề, cụ ngồi cầm chầu, suốt đêm không hề ngồi nghiêng, ngồi dựa. Cụ không tranh giành với ai bao giờ, hồi cụ bẩy mươi, theo lệ làng biếu một sào ruộng, song cái ruộng đó bị tên Mỗ người làng ta, chiếm mất. Thế mà cụ cũng không lấy làm điều. Cụ Cương Mẫn mất sớm, cụ thờ phụng ông bà hết lòng thần hôn. Nhờ cụ Thông Trí dạy dỗ, cụ chăm chỉ học hành. Khi cụ mới đỗ tú tài lần đầu, cụ Thông Trí hãy còn kịp thấy. Cụ thờ  mẹ là cụ Trinh đạt từ Quang, hết lòng hiếu thảo, nhà nghèo, thế mà không khi nào thiếu đồ ngon ngọt. Hễ gặp những ngày giỗ cha mẹ thì cụ mặc áo đại tang, lạy rạp đất, khóc nức nở. Đó cũng là cái tính hiếu thảo từ trời phú cho vậy.

------------------------
(1) Trưởng là Bá Thận, hiệu là Tĩnh Hiên; thứ là Trọng Đôn, hiệu là Tín Chi, thứ ba là Hoàng Thúc Hội, cử nhân; thứ tư là Hoàng Quý Thông, thất phẩm.
(2) Trưởng là Thị Uyển, thứ là Thị Khương, thứ ba là Thiếu Viên, thứ tư là Thị Cửu.
          Lúc bé, cụ học chú là cụ Khắc Trai, lớn lên cụ học ông chú là cụ Trực Hiên. Sau lại học cụ Đốc Võ Lỗ Am, bên Bắc. Văn cụ tỷ mỷ, đẹp đẽ, nổi tiếng từ sớm, đi khảo, đi hạch đều đỗ thứ nhì cả. Bấy giờ người ta có tặng cụ cái danh  hiệu là một trong bốn hổ ở Từ Liêm.
          Khoa Quý Mão, năm Thiệu Trị thứ ba (1843), khoa Ất Mão năm Tự Đức thứ tám (1855), khoa Mậu Ngọ năm Tự Đức thứ mười một (1858), khoa Giáp Tý năm Tự Đức thứ mười lăm (1864), khoa Đinh Mão năm Tự Đức thứ 18 (1867) và An khoa Mậu thìn năm thứ 19, đời Tự Đức, cụ đều đậu tú tài ca. Năm cụ ngoài 40, quan trên theo lệ cất nhắc cụ sung vào chân Cống Cử đến hai lần; song cụ vâng theo ý  mẹ, hết sức từ chối. Cụ Khắc Trai thường kêu cụ là anh “ba Mão” ý nói cụ đi ba khoa Mão và đỗ sáu lần tú tài. Đến khoa Kỷ Mão 1879 (1), đời Tự Đức, cụ đã 64 tuổi, vẫn còn lều chiếu đi thi. Vào đến kỳ thứ hai, vì lầm (2) một chút mà phải hỏng, từ đó cái trí khoa cử của cụ mới tắt.
          Bấy giờ anh cả và anh hai của Hội đã lớn tuổi rồi, kho mong làm nên được, thực chẳng đã cụ dặn Hội phải quyết chí vì cha mà báo trả cái thù Trường Óc. Ôi ! Đèn sách bạc đầu, không làm to được, cái bờ khoa cử ngăn cản người ta đến thế ư !
          Vì cảnh mồ côi nghèo khó, trước sau cứ phải đi dạy học để giúp tiền đèn sách cho mình và cũng bữa sớm hôm cho mẹ. Này đây, những chỗ cụ đã ngồi dậy học : hiệu Ngũ văn đường phố Hàng Ngang, hiệu Trường Nhân Đường phố Hàng Bạc ở Hà Nội, làng Mai Dịch, làng Hạ Hội thuộc huyện ta, làng Phương Bản thuộc Sơn Tây, cụ lại ngồi Hương Sư tại làng Thạc Quả bên Bắc Ninh nữa. Cụ thường ngâm rằng :
          Đất trời yên ổn, thân riêng loạn !
          Non nước giầu sang, tớ vẫn nghèo.

---------------------------
(1) Sau đó ba năm là năm Nhâm Ngọ (1882), người Pháp thành Hà Nội, thì trường thi Hà Nội cũng tan cuộc từ bấy giờ.
(2) Bấy giờ quốc mẫu ăn thọ thất tuần, cụ viết lầm ra bát tuần, nên bị quan trường cho là không cẩn thận.
          Coi vậy, đủ biết không nông nổi cay đắng của cụ là thế nào. Dạy học kỹ lưỡng, giảng nghĩa rạch ròi, cụ khéo dẫn dụ, triển khai cho nên học trò được nhiều điều lợi ích. Những người làm nên như ông Phủ  Trần Khắc Quang, làng Mỗ, ông Huấn Phạm Đình Mỹ, hàng Bạc, ông huyện Hoàng Xuân Hanh, ông huấn Tất Đạt, và ông huyện Hoàng Tài đều nhờ một cụ dạy dỗ cho cả.
          Chịu cái gia đình giáo dục, hễ gặp việc gì Hội cũng được cụ dạy ngay. Về việc học hành cụ kèm riết lắm, khi cụ đã già, nhà nghèo, không đủ cơm ăn áo mặc, cụ thường bảo Hội rằng : “Vì có con, cho nên cha đây còn ham cái sống thừa này !” Cụ lại nói : “Lăn lóc trường ốc mất nửa đời người, thế  mà chỉ làm được một tí ông Tú ! Ta muốn dạy con lấy đỗ, để rửa hờn cho cái duyên nợ văn chương”.
          Năm Hội 25 tuổi, thì cụ qua đời ! Hội đã không đ sớm để hả lòng cha, lại không biết nuôi để vui tuổi thọ. Bây giờ nghĩ lại, luống những đau lòng ! Nhưng chỉ giữ được một điều là : Ngoài cha ra, không dám học ai nữa, để tỏ lòng ghi nhớ cái công của cụ mà thôi.

Các cụ bà
(Hai vợ cụ Bật Trai)
10/ Cụ Cả :
Cụ họ Nguyễn, tên là E, hiệu là Từ Phác, con gái cụ             và cụ              , người làng ta, cháu gọi là cô cụ Trinh Đạt Từ Quang; sinh năm Giáp Tuất, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1817).
          Cụ sinh hai trai (1) ba gái (2) mất hồi giờ Mão ngày 7 tháng 12 năm Quý Tỵ, niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1894), thọ 83 tuổi, táng tại xứ Gô Giai đồng làng ta.
 ---------------------
(1) Trưởng là Bá Thân, hiệu là Tĩnh Hiên, thứ  hai là Trọng Đôn hiệu là Tín Chi.
(2) Trương là Thị Uyển, thứ hai là Thị Khương, thứ ba là Thiếu Viêm.
2/ Cụ Hai :
          Cụ họ Nguyễn, tên là Hai, hiệu là Từ Huệ, con gái cả cụ Nguyễn Trạc (hiệu là Trực Hoà) và cụ bà Trực Chính, họ Nguyễn người làng Hạ Hội, tổng Tây Tựu, huyện ta.
          Cụ sinh hồi giờ Tuất, ngày 23, tháng 12 năm Mậu Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 19 (1839).
          Sinh được hai trai (1), một gái (2) cụ mất nhằm giờ Ngọ. Ngày 15 tháng tám, năm Quý Mão, niên hiệu Thành Thái thứ 15 (1903) thọ 65 tuổi, trước táng ở đồng làng ta, đến ngày 27 tháng hai, năm Ất Sửu, niên hiệu Khải Định thứ 10 (1926) thì đời đi ký táng tại xứ Mai Hoa đồng làng Công Hạ thuộc huyện Thanh Trì.
          Tính cụ rộng rãi, dễ dàng, ưa làm việc bố trí, đối đãi với đầy tớ rất tử tế. Nhiều người vay mượn của cụ rồi quỵt không trả. Vì vậy về già cụ phải nghèo túng, nhưng cái phúc đức ngấm ngầm cũng ở đó.
          Cụ lại là người rất phụ khí, thấy ai nói động đến mình, thì phải trống  lại. Các con hễ nói trái ý cụ, thì cụ chửi mắng ầm ầm. Cụ lại có lòng hiền tử lắm : Khi Hội đã lớn, hôm nào đi bình văn về, cụ cũng hỏi rằng : “Con có đói không ? để mẹ ra chợ mua quà cho ăn”. Ba xuân tấc đỏ, thật khó đến bồi !
          Khi cụ mới lấy cụ Bật Trai ta, nhà chồng nghèo, việc lớn, việc nhỏ cái gì cũng đến tay; thế mà lo liệu những việc giỗ Tết, khách khứa đâu vào đó cả. Cụ Từ Phác và ông Tĩnh Hiên, ngày thường thì ăn riêng; hàng năm cứ đến ba mươi Tết, thì cụ sửa soạn  những đồ làm Tết, rồi mời mọi người ăn chung cho đến ngày mồng bẩy tháng giêng, rồi sau bếp nào mới lại biệt riêng bếp ấy, năm nào cũng vậy, ông Tĩnh Hiên nghèo quá, cụ vẫn thường thường giúp đỡ cho. Kể về tính thương người ta, đó cũng là một điều hiếm có.
-----------------------
(1) Trưởng là Hoàng Thúc Hội, thứ là Hoàng Quý Thông.
(2) Hoàng Thị Cưu lấy Nguyễn Văn Hinh, con cụ Tú làng Mai Dịch
          Giữa vời, cụ buôn bán phát tài, đã tậu được vài mẫu ruộng. Đến năm Nhâm Ngọ đời Tự Đức, người Pháp lấy nước ta, ôn mấy năm loạn lạc, lụt nước đói kém, nhiều người vỡ nợ của cụ, mà cụ thì buôn thua bán lỗ, chơ nên lại nghèo nhớt mồng tơi !
          Năm Canh Tý đời Thành Thái, Hội đỗ Tú tài, cụ còn được trông thấy. Thượng tuần tháng tám Quý Mão, vì có việc lên làng Thượng Hội (1), cụ ở đó vài ngày, rồi tiện đường về chơi làng Hạ Hội, ngủ lại hai đêm, có nằm chiêm bao thấy mẹ là cụ Trực Chính, bảo rằng : “Mau về đi ! Mau mau về đi !” Khi tỉnh dậy, cụ lấy làm lạ, sáng sớm hôm sau cụ đi về, dọc đường đã thấy khó ở, chiều về tới nhà, thì phát chứng tả một cách dữ dội.
          Khi đó Hội đang học tại nhà ông Ích  Nguyên, phố hàng Thiếc Hà Nội, Quý Thông thì ở phố hàng Quạt. Đêm hôm 11 tháng đó, Hội ở nhà trọ, dường như có cảm động trong lòng, không sao yên giấc, trong cơn mường tượng, có nằm mơ thấy những người bà con đã qua đời đều nhóm họp ở nhà mình. Khi tỉnh dậy không biết ra thế nào cả. Tảng sáng hôm sau được tin cụ mệt, lòng Hội bâng khuâng bối rối, dường như đánh mất cái gì, vội chạy đi báo tin cho em là Quý Thông. Khi gặp nhau không sao nói nên lời được, ngơm ngớp chỉ sợ về không kịp nhìn mặt mẹ nữa. Tới lúc về, hầu hạ thuốc thang, mới được ba ngày thì cụ đã bỏ các con cháu mà đi rồi ! Than ôi ! Đau đớn thay !
          Ngày 12 tháng năm năm đó, bão lớn, nhà ở suýt đổ. Khi đó công thợ và vật liệu làm nhà cái gì cũng đắt cho nên không kịp sửa chữa. Sau khi khâm liệm cụ rồi, mới mua tre lá, tu bổ qua quýt cho xong việc. Qua ngày 25 thì làm lễ an táng.

------------------------
(1) Bấy giờ ở làng Thượng Hội đường có bệnh dịch, người vú em nuôi con Quý Thông chạy về bôn tang, đem cả con của Quý Thông cùng về. Vì lòng yêu thương, cụ cũng đi để trông nom cháu, chẳng dè vì thế mà mắc phải chứng lệ khí.

Phụ lục
Con gái cụ Cương Mãn
(Đời thứ mười  bốn)
          Cụ tên là Thị Thìn, hiệu là Cần Thành, con gái cụ Cương Mẫn và cụ Trinh Đạt từ Quang, em cụ Bật Trai.
          Cụ sinh nhằm giờ Sửu, ngày 25 tháng tám năm Canh Thìn, Minh Mạng Nguyên niên (1820) lấy cụ Nguyễn Sán làng ta, để được một trai tên gọi Đình Đạm và một gái tên gọi Thi Đinh.
          Đình Đạm sinh Đình Lương, Đình Lương Hội đỗ Tú tài khoa Bính Ngọ (1)
          Cụ mất hồi giờ Tuất, ngày mồng một tháng năm, năm Bính Ngọ niên hiệu Thành Thái thứ 18 (1906) thọ 87 tuổi, táng tại đồng làng ta.

----------------------------
(1) Khoa đó, Hội đỗ cử nhân, Lượng đậu Tú tài thế là bác cháu họ đồng khoa

Đời thứ mười lăm
Cụ Tĩnh Hiên
          Cụ tên là Bá Thận, tên đi thi là Bá Cát, hiệu là Tĩnh Hiên, con trưởng cụ Bật Trai và cụ Từ Phúc.
          Cụ sinh hồi giờ Tuất ngày mồng tám tháng mười, năm Kỷ Hợi niên hiệu Minh Mạng thứ 20 (1839), lấy một vợ sinh hai trai (1), mất ngày 21 tháng mười năm Đinh Tỵ, niên hiệu Khải Định thứ hai (1917) thọ 79 tuổi, trước táng ở đồng làng ta, sau dời đi ký táng tại đồng thôn Quan Nhân, xã Nhân Mục huyện Thanh Trì.
          Tính cụ trịnh trọng, ít nói, cho nên Hội đặt tên hiệu cụ là Tĩnh Hiên, khoa Kỷ Mão cụ đi thi Hương, đã vào đến kỳ thứ hai.

Cụ bà
(Vợ cụ Tĩnh Hiên)
          Cụ họ Đoàn, tên là Năm, hiệu là Từ Thuận, con gái út nhà họ Đoàn ở làng Mai Dịch, tổng ta, sinh hai trai (2).
          Cụ mất ngày 14 tháng 10 năm Mậu Tuất, niên hiệu Thành Thái thứ mười (1898), thọ 64 tuổi, ký táng tại đồng làng Mai Phúc, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh.

----------------------------
(1) Trưởng là Mạnh Sảng, hiệu là Muội Phu, thứ là Khắc Đoan đỗ tú tài.
(2) Xin coi lại chỗ chép về cụ ông.

Đời thứ mười lăm
Cụ Tin Chi
          Cụ tên là Trọng Đôn, hiệu là Tín Chi, con thứ hai cụ Bật Trai và cụ Từ Phác, em cụ Tĩnh Hiên, anh của Thúc Hội và của Quý Thông.
          Cụ sinh năm Minh Mạng thứ 12 (1832) lấy một vợ, sinh một trai (1), hai gái (2) mất ngày 26 tháng mười một, năm Quý Tỵ niên hiệu Thành Thái thứ năm (1893) thọ 53 tuổi, táng tại làng ta.
          Cụ là một người mộc mạc, thật  thà, dịu dàng, dễ dãi, có tính hay khôi hài. Khi cụ Bật Trai đi dậy học, vắng nhà, cụ Tín Chi bị bọn kỳ hào trong làng xui giục bèn ra làm lý trưởng, bọn tiểu nhân cám dỗ làm điều tư xúi, đến nỗi thiếu tiền thuế, thường bị nhà đường cụ quở trách. Cực chẳng đã cụ Bật Trai phải vay mượn để đền bù cho, rồi nói với quan Phủ ép phải từ lý trưởng.
          Sau đó, cụ Tín Chi lại sang làm chân sai phái ở tỉnh Bắc Ninh, được quan tỉnh quyền cấp cho cái bằng cửu phẩm. Song cảnh nhà không được may mắn, rút cục lại đến nghèo khó.
          Cụ có ngồi dạy học tại nhà ông Nguyễn Văn Chiêm, Chánh tổng ở làng Hiền Lương, huyện Hạ Hoà tỉnh Hưng Hoá, được hơn hai năm thì mất tại đó, học trò tống táng cũng được đúng lễ.
          Hay tin buồn đó, cụ Bật Trai sai làm lễ “văn tang” ở nhà, rồi sai con và rể cụ Tín chi lên thăm.

----------------------
(1) Hoàng Đoan Nguyên, sau đổi tên là

          Qua năm sau, Doãn Nguyên bốc mộ cụ, đi đường thuỷ, đem đi hài về, khi đi đến Thuỵ Phương (Trèm) thuộc huyện ta, thì đi đường bộ, đưa về táng tại làng nhà.
          Hôm chôn cất, Hội làm bài văn tế điện, có câu rằng :
          “Đường danh roi quát, tang bồng nợ ấy chưa đền !
          Màn học bụi bay, lam chướng ma kia khéo cợt !”
Mấy câu  đó cũng đủ rõ đại khái được lịch sử sinh bình của cụ.

Cụ bà
(Vợ cụ Tín Chi)
          Cụ họ Nguyễn, tên là Yêu, hiệu là Tu Thuận con cụ Nguyễn Quang Ngan (hiệu là Phúc Tru) và cụ Doan Thị Manh (vợ lẽ cụ Quang Ngan), người làng ta, sinh một trai và hai gái (1); mất ngày mười tám tháng năm, năm Thành Thái thứ chín (1898) táng tại đồng làng ta.

----------------------
(1) Xin coi lại chỗ chép về cụ ông.

                                     

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét