Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011


Nguồn gốc Họ Hoàng-Huỳnh


TÌM GỐC TÍCH HỌ HOÀNG         



(Hoàng Minh Tuyển sưu tầm và lược dịch)





1. Một số cách phát âm khác nhau của từ họ Hoàng
Huang, Hwang                                (Mandarin-Quan thoại )
Wong                                                 (Quảng Đông /Yue, Fuzhou, Hakka/Kejia, Gan)
Bong                                                  (Hakka/Kejia)
Huỳnh, Hoàng                                 (Việt Nam)
Hwang                                               (Korean, 
Triều Tiên)
Ng                                                       (Phúc  Kiến/Min, Teochiew/Chaoshan)
Oei, Ooi, Oi, Wee                             (Hokkien/Min)
Ong                                                    (Phát âm chệch của "Ng")
Trích lọc thông tin từ trang WEB http://www.geocities.com/bx_huang/ xác định gốc tích họ Hoàng như sau:

2. Gốc tích họ Hoàng



Họ Hoàng ở Trung Quốc xếp thứ 8 trong các dòng họ và có dân số (tính trên toàn thế giới) khoảng 31 triệu người (năm 2000). Trong bản bách tính gia (家姓), họ Hoàng chép ở số thứ tự 96.
Từ đời nhà  Shun (帝舜)(Thuấn đế), Hui Lian 惠连 (Huệ Liên), con trai của Lu Zhong 陆终 (Lục Chung), hậu duệ của Hoàng Đế (黄帝) đã thành công trong việc chế ngự lũ lụt, vua Shun (Thuấn) ban đất Can'hu (参胡) (Tham Hồ), ngày nay là đất Fenyang (汾阳) (Phần Dương)tỉnh Shanxi (山西省) (Sơn Tây). Vào năm 2200 trước công nguyên, vua Shun đổi tên đất Can'hu thành đất của nước Hoàng (黄国) ban họ cho Hui Lian thành họ Hoàng (), tên là Yun ()(Vân). Từ đấy, con cháu họ Hoàng cai trị đất này cho đến thời Xuân Thu (春秋时代) (722- 481 trước công nguyên). Sau đó rơi vào tay nước Jin (晋国) (Tấn Quốc).
Như vậy, từ đời Hoàng Đế đến Hui Lian tất cả 12 đời như sau: (1) 黄帝 Hoàng  Đế (Huang Di), (2) Chang Yi 昌意(Xương Ý), (3)Zhuan Xu (Emperor) 帝颛须,(Chuyên Tu đế) (4)Qiong Chan 穷蝉 (Cùng Thiền), (5)Nu Xiu 女修,(Nữ Tu), (6)Lao Tong 老童 (Lão Đồng)(7)Shao Xin 少辛 (Thiểu Tân),(8)Juan Zhang 卷章(Quyển Chương),(9)Zhong Li 重黎 (Trọng Lê) ,(10)Wu Hui 吴回 (Ngô Hồi) ,(11)Lu Zhong 陆终 (Lục Chung),(12)Hui Lian 惠连 (Huệ Liên). Tính đến nay đã là 4200 năm kể từ ông tổ Hui Lian (Huang Yun – 2253TCN).
3. Sự phát triển
Vào năm 891 trước CN, Chu Thảo Vương (Zhou Xiao Wang) 周孝王 phong Hầu  cho Hoàng Hi (黄熙) (con trai (aka) của Huang Shi 黄石-Hoàng Thạch), hậu duệ thứ 53 của Huệ Liên (惠连và phong đất vùng phiá đông sông Hán (汉水(ngày nay thuộc vùng Nghi Thành (Yicheng) (宜城tỉnh Hồ Bắc (湖北) gọi là đất Hoàng (lưu ý đất này khác với nước Hoàng ở Phần Dương, tỉnh Sơn Tây). Lãnh địa này gồm 4 nước: Giang (), Hoàng () - được gây dựng  do hậu duệ của Bá Ích (伯益), Đạo (), Bá (), nằm trong thung lũng sông Hoàng (潢水). Nước Hoàng ở  Nghi Thành, Hồ Bắc được xem như nước Tây Hoàng (西黄) trong lịck sử. Vào năm 845 trước CN, Hầu Văn (文侯 Hoàng Mạnh (黄孟), aka của  Hoàng Chương (黄璋) dời  đô nước Hoàng từ Nghi Thành về Hoàng Xuyên (Huangchuan) (潢川), tỉnh Hà Nam và lập nên nước Hoàng mới. Hậu duệ của Hoàng Hi (黄熙) thống trị đất Hoàng cho đến năm 648 TCN sau đó bị nước Sở, một chư hầu của Nhà Chu chiếm mất. Hầu Mục (穆侯) Hoàng Xí Sanh (黄企生) chạy thoát sang lánh ở nước Tề (齐国) (ngày nay thuộc Linzi, tỉnh Sơn Đông (山东省)). Thần dân nước Hoàng buộc di chuyển về đất nhà Chu ngày nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, nơi mà được gọi là Giang Hạ quận (Jiangxia 江夏郡thời nhà Hán (汉朝) (nay là Vũ Hán).  Ngày nay, nhiều nơi ở vùng này vẫn còn có tên là Hoàng như Hoàng Cương (黄冈), Hoàng Pha (黄陂), Hoàng Mai (黄梅), Hoàng Thạch (黄石). Một phần lớn thần dân Hoàng cũng dời đến vùng phía Nam sông Trường giang/Giang Tế (Dương tử) (长江),  dần dần đồng hoá với dân địa phương mà thành dân thiểu số họ Hoàng không thuần Hán đang sống ở vùng nam Trung Quốc ngày nay.
Từ Giang Hạ, dần dần họ Hoàng đi khắp Trung Hoa và trên thế giới. Từ đây, Giang Hạ được xem như là cái nôi của họ Hoàng. Ngày nay, họ Hoàng được gọi là Hoàng Giang Hạ và tên gọi Giang Hạ tương đồng với họ Hoàng.
Sau 3 thế kỷ suy tàn, họ Hoàng được phục hưng khi Hoàng Hiết (黄歇), một hậu duệ của gia đình quý tộc họ Hoàng đã được tiến cử làm tể tướng nhà Chu. Hoàng Hiết được phong là lãnh chúa Xuân Thân (春申君) sống vào năm (314-238 TCN). Thời nhà Hán, Hoàng Bá (黄霸) (130 - 51 TCN) lại được phong làm tể tướng. Họ Hoàng bước vào thời kỳ cực thịnh trong thời nhà Hán
Vào thời nhà Tấn (晋朝) (265-420), rợ Hồ xâm lấn phía Bắc Trung Hoa, nhiều dân cư sống phía bắc (đặc biệt là các gia đình quan lại) di chuyển xuống phía nam cùng với nhà Tấn. Đây chính là thời gian dân họ Hoàng nhập cư vào Phúc Kiến (福建省). Từ đời nhà Đường (618-907 sau CN) về  sau, dân họ Hoàng nhập cư vào Quảng đông (广东省từ Phúc Kiến.  Họ Hoàng  phát triển trở nên dòng họ lớn và đứng thứ 3 ở Nam Trung Hoa ngày nay.
Thời gian giao thời giữa nhà Minh ((1368-1644) nhà Thanh () (1644-1912), nhiều quan lại họ Hoàng theo lực lượng Nhà Minh chống nhà Thanh dưới  sự  lãnh  đạo  của Trịnh Thành Công (郑成功) đã vượt biển sang Đài Loan. Dân họ Hoàng vượt biển xuống Đông Nam Á chủ yếu vào đầu thế kỷ 14 thời nhà Minh.
Theo gia phả họ Hoàng ở Trung Quốc, đến thời quân Nguyên Mông xâm lược Trung Hoa (1279), dựng nên triều Nguyên (Yuan-1279-1368), đây là thời kỳ bước ngoặt lớn cho họ Hoàng, từ thời kỳ huy hoàng cực thịnh bước vào thời kỳ suy tàn mà không thể nào khôi phục được.
Lần theo gia phả họ Hoàng, đến đời 131, Hoàng Bá Nghiêu/Giao 黄伯尧 (1340-1398), dời đến ở Cao sơn (Gaoshan), Zhangpu (nay thuộc làng Gaoshan thị trấn Shaxi, huyện Zhangpu , tỉnh Phúc Kiến),













Đến đời 134, Hoàng  Thiêm Hải (黄添海), tên riêng là Hoàng Cung (黄恭), chuyển đến Jiaotou, Dongbo, Dongshan (nay là Dongling, huyện Dongshan, tỉnh Phúc Kiến-Fujian), thời vua Hongzhi (1488-1505) đời nhà Minh. Một  cháu nội của ông ta tên là Hoàng Kế 黄继, dời đến Cao Khanh (高坑) (nay là thị tứ Meiling), huyện Zhao'an hình thành nên dòng họ Hoàng Cao Khanh. Như vậy, Huang Tianhai được xem như là ông tổ của dòng họ Hoàng Cao Khanh, huyện Zhao’an, tỉnh Phúc Kiến. Đời 136, Huang Ji (黄继) Hoàng Chi, thuộc nhà Minh vua Minh Gia Tĩnh (明嘉靖:1522-1567), ông là cha của 6 người con (con út là con nuôi thuộc dòng Hoàng Ziyun). Từ đây hình thành nên 6 nhánh lớn họ Hoàng gọi là 6 nhánh họ Hoàng ở Cao Khanh. Đời thứ 137, Huang Tu (黄徒 Hoàng Đồ), tiếp tục sống tại Cao Khanh Zhao’an. Đời thứ 138 (không rõ tên), chuyển đến ở làngTianpan, Cao Khanh lập nên đền Thiệu Kế Đường (绍继堂). Từ đây đến đời 145 (thuộc cuối nhà Minh đến nhà Thanh) gia phả bị mất hoàn toàn do cuộc đại cách mạng văn hoá (1966-1976). 




Các luồng di cư của dân cư họ Hoàng ở
Phúc Kiến và Quảng Đông
Bản đồ chỉ đưa ra 4 nhánh lớn của họ Hoàng di cư ở Phúc Kiến và Quảng Đông bao gồm:
1.      Nhánh  Gangzhou    -Cương Châu phái (hậu duệ của Hoàng Thao- 黄滔-Huang Tao 840-911)
2.      Nhánh Heping   - Hoà Bình phái (Hậu duệ của Hoàng Tiễu Sơn 黄峭山-Huang Qiaoshan)
3.      Nhánh Qingshan Huqiu     - Thanh Sơn Hổ Khâu phái  (Hậu duệ của Hoàng  Khánh Đôn 黄庆敦-Huang Qingdun, con trai của Hoàng Đôn 黄敦- Huang Dun 740-797).
4.      Nhánh Ziyun   - Tử Vân phái (Hậu duệ của  Hoàng Thủ Cung 黄守恭 629-712)




Tộc uớc của họ Hoàng Giang Hạ
Hoàng Thị Gia Huấn











Tộc ước họ Hoàng Giang Hạ
(Hoàng Minh Tuyển lược dịch)

1.Luôn luôn kính trọng người già, đây là đức hạnh quan trọng bậc nhất. Đừng có bao giờ làm trái lại mà phương hại đến bản tính của mình. Mong rằng con cháu họ Hoàng luôn giáo dục điều này trong mỗi gia đình.

2. Đối xử với họ hàng như người trong gia đình mình, vì chúng ta là cùng một cội rễ, thậm chí là họ hàng xa. Đừng bao giờ xem như là kẻ thù mà hãy xem như trong một gia đình và thương yêu lẫn nhau.

3. Đối xử tốt với hàng xóm vì chúng ta sống trong cùng một cộng đồng, cùng uống chung một nguồn nước. Luôn luôn xem hàng xóm là bè bạn, giúp đỡ lẫn nhau, đừng bao giờ hại nhau. Hãy gần gũi với hàng xóm như thịt xương, xem đây là bổn phận của mình.

4. Luôn lịch thiệp, sẵn sàng giúp đỡ mọi người vì đây là phương sách ứng xử trong nhân gian; đừng bao giờ chỉ hạ mình và tự kiêu tự đại, luôn luôn tỏ ra khiêm nhường.

5. Chăm chỉ làm việc, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp dù cho mình đang làm nghề gì, ở điạ vị nào. Có như vậy mới trở thành chuyên gia giỏi, tạo dựng nên sự nghiệp và luôn là người không chịu lệ thuộc.


6. Kính trọng các quân nhân, đánh giá đúng, đầy đủ công ơn của họ vì họ là người đã hy sinh thân mình cho chúng ta. Hãy luôn nhớ lấy điều này.


7. Học hỏi từ cách cách đối xử với nhân gian, đây là nền tảng của giáo dục.

8. Chăm sóc mồ mả, hàng năm cần phải thăm nom mồ mả tổ tiên, và cúng bái đầy đủ.


9. Đặt tên con cháu tránh kỵ huý, xúc phạm với tổ tiên, người cao tu
i.

10. Tránh tranh dành, kiện tụng trong cùng một gia đình dẫn đến mất anh em, tan nát gia đình


11. Mỗi hành động của mình phải minh bạch, chính đáng. Đừng tham lam tiền bạc và bày đặt những việc xảo trá…Hãy suy nghĩ thật kỹ lưỡng trước khi thấy mối  lợi .


12. Tránh xúc phạm t
 tiên. Đây là truyền thống có từ lâu đời để phân biệt sang hèn. Hãy noi gương và tiếp bước cha anh.

13. 
Tránh đi lầm đường lạc lối. Toàn thể hộ tộc một lòng đề phòng và chống lại điều này. Khi nghe người khác nói những lời xấu xa độc ác thì hãy tránh xa để tránh nguy hại.

14. Tuân thủ pháp luật


15. Gìn giữ, trân trọng tộc ước vì đã được soạn do t tiên xa xưa để lại. Hãy luôn để bên mình và trong gia đình mình. Tộc ước nói lên giá trị đích thực của họ tộc.


4. Một số thông tin tham khảo

Gia phả họ Hoàng tại Thái Bình-Nam Định-Hải Phòng (xem trang web http://hohoang.com/giapha/giapha.html) giải thích gốc tích họ Hoàng như sau:
Nghiên cứu về nguồn gốc họ Hoàng, bộ Bách Tính Tầm Nguyên nói rằng: Dưới đời Phục Hy Thị, một nhà có tám anh em chia nhau nỗi người đi một phương, lập thành tám bộ lạc khác nhau. Có một người đến một chỗ thung lũng bạt cỏ làm ruộng. Trong đời Thần Nông Thị ngoài đó đã trở thành một bộ lạc có sức mạnh, có thế lớn nổi tiếng là người Hiên Viên. Bộ lạc này biết chế tạo và sử dụng vũ khí để đánh dẹp gây dựng nên một bộ lạc hùng cường. Rồi cũng vì ý thức tìm về nguồn gốc, người Hiên Viên ghi lại bộ phát tích của T tiên. Một trong tám anh em, họ dùng chữ Nhất là Một, và chữ Bát là Tám. Phá cỏ làm ruộng, họ dùng chữ Thảo là Cỏ và chữ Điền là Ruộng. Bốn chữ: Nhất, Bát, Thảo, Điền đem sắp xếp gọn lại thành chữ Hoàng Bộ lạc Hiên Viên dùng chữ Hoàng để làm Họ. Sau này họ Hoàng xưng đế thay Thần Nông Thị gọi là Hoàng đế Hiên Viên. Hoàng đế là vua thứ Ba trong Ngũ Đế: Phục Hy Thị, Thần Nông Thị, Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn.
(Chú ý: Trong gia phả, họ Hoàng ta không dùng chữ mà dùng chữ để phân biệt với một họ Hoàng khác cũng ở Quảng Hà mà ta gọi là họ Hoàng Ngoại hay là Hoàng Mạc có nguồn gốc là họ Mạc, chạy từ Hải Dương-Hưng Yên vào sau khi nhà Lê chiếm lại ngôi từ nhà Mạc)


BẢNG THỜI GIAN MT SỐ TRIỀU ĐẠI VIỆT NAM

TRIỀU TRẦN (1225-1400) 

Trần Thái Tông
1225-1258
Trần Thánh Tông
1258-1278
Trần Nhân Tông
1279-1293
Trần Anh Tông
1293-1314
Trần Minh Tông
1314-1329
Trần Hiến Tông
1329-1341
Trần Dụ Tông
1341-1369
Trần Nghệ Tông
1370-1372
Trần Duệ Tông
1372-1377
Trần Phế Đế
1377-1388
Trần Thuận Tông
1388-1398
Trần Thiếu Đế
1398-1400

TRIỀU HỒ (1400-1407) VÀ NƯỚC ĐẠI NGU
Tên
Năm trị vì
Niên Hiệu
Hồ Quý Ly
1400
Thánh Nguyên
Hồ Hán Thương
1401-l407
Thiệu Thành (1401-1402)
Khai Đại (1403-1407)
TRIỀU HẬU TRẦN (1407-1413)
Tên
Năm trị vì
Niên Hiệu
Giản Định Đế
1407-1409
Hưng Khánh
Trần Quý Khoáng
(
Trùng Quang Đế )
1409-1413
Trùng Quang
Kỷ Thuộc Minh
1414-1417

Khởi nghĩa Lam Sơn
1418-1420..

NHÀ LÊ  SƠ
Tên
Năm trị vì
Niên Hiệu
1. Lê Thái Tổ            
1428-1433
Thuận Thiên
2. Lê Thái Tông        
1434-1442
Thiệu Bình (1434- 1439)
Đại Bảo (1439-1442)
3. Lê Nhân Tông       
1443-1459
Đại Hoà (1443-1453)
Diên Ninh (1454-1459)
(Lê Nghi Dân)
1459-1460
Thiên Hưng
4. Lê Thánh Tông     
1460-1497
Quang Thuận (1460)
Hồng Đức (1470-1497)
5. Lê Hiến Tông        
1497-1504
Cảnh Thống
6. Lê Túc Tông         
1504
Thái Trinh
7. Lê Uy Mục
1505-1509
Đoan Khánh
8. Lê Tương Dực     
1510-1516
Hồng Thuận
9. Lê Chiêu Tông     
1516-1522
Quang Thiệu
10. Lê Cung Hoàng
1522-1527
Thống Nguyên
ĐỜI NHÀ MẠC
Tên
Năm trị vì
Niên Hiệu
1. Mạc Đăng Dung   
1527-1529

2. Mạc Đăng Doanh
1530-1540
Đại Chính
3. Mạc Phúc Hải       
1541-1546
Quảng Hòa
4. Mạc Phúc Nguyên
1546-1561
Vĩnh Định (1547)
Cảnh Lịch (1548-1553)
Quảng Bảo (1554-1561)
5. Mạc Mậu Hợp      
1562-1592
Thuần Phúc (1562-1565)
Sùng Khang (1566-1577)
Diên Thành (1578-1585)
Đoan Thái (1586-1587)
Hung Trị (1590)
Hồng Ninh (1591-1592)


TRIỀU HẬU LÊ (LÊ TRUNG HƯNG)
NAM - BẮC TRIỀU (1533-1593)
Nhà Lê Trung Hưng từ Trang Tông đến Chiêu Thống trải qua 18 đời với 265 năm trị vì. Nhà Hậu Lê tồn tại song song với nhà Mạc từ 1533-1592. Và với Trịnh Nguyễn từ 1592-1789. Đây là giai đoạn của nạn nội chiến Nam-Bắc triều và Trịnh. 16 đời vua Lê nối tiếp nhau.
Tên
Năm trị vì
Niên Hiệu
Trang Tông
1533-1548
Nguyễn Hoà
Trung Tông
1548-1556
Thuận Bình
Anh Tông
1556-1573
Thiên Hựu (1557)
Chính Trị (1558-1571) Hồng Phúc (1572-1573)
Thế Tông
1573-1599
Gia Thái (1573-1577)
Quang Hưng (1578-1599)
Kính Tông
1600-1619
Thuận Đức (1600)
Hoằng Định (1601-1619)
Thần Tông
1619-1643 và 1649-1662
Vĩnh Tộ (1620-1628)
Đức Long (1629-1634)
Dương Hòa (1635-1643)
Khánh Đức (1649-1652)
Thịnh Đức (1653-1657) Vĩnh Thọ (1658-1661)
Vạn Khánh 1662
Chân Tông
1643-1649
Phúc Thái
Huyền Tông
1663-1671
Cảnh Trị
Gia Tông
1672-1675
Dương Đúc (1672-1673)
Đúc Nguyên (1674-1675)
Hy Tông
1676-1704
Vĩnh Trị (1678-1680)
Chính Hòa (1681-1705)
Dụ Tông
1705-1728
- Vĩnh Thịnh (1706-1719)
- Bảo Thái (1720-1729)
Hôn Đức Công
1729-1732
Vĩnh Khánh
Thuần Tông
1733-1735
Long Đức
Ý Tông
1735-1740
Vĩnh Hựu
Hiển Tông
1740-1786
Cảnh Hưng
Lê Mẫn Đế
1787-1789
Chiêu Thống
DÒNG DÕI CHÚA TRỊNH (1545-1786)
Trịnh Kiểm
1545-1570
Trịnh Tùng
1570-1623
Trịnh Tráng
1623-1652
Trịnh Tạc
1653-1682
Trịnh Cǎn
1682-1709
Trịnh Cương
1709-1729
Trịnh Giang
1729-1740
Trịnh Doanh
1740-1767
Trịnh Sâm
1767-1782
Trịnh Tông
1782-1786
Trịnh Bồng
1786-1787
DÒNG DÕI CHÚA NGUYỄN (1600-1802)
Nguyễn Hoàng
1600-1613
Nguyễn Phúc Nguyên
1613-1635
Nguyễn Phúc Lan
1635-1648
Nguyễn Phúc Tần
1648-1687
Nguyễn Phúc Trăn
1687-1691
Nguyễn Phúc Chu
1691-1725
Nguyễn Phúc Chú
1725-1738
Nguyễn Phúc Khoát
1738-1765
Nguyễn Phúc Thuần
1765-1777
Nguyễn Phúc Ánh
1777-1802

NHÀ  TÂY SƠN
1. Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc1778-1793
2. Quang Trung Nguyễn Huệ           1789-1792
3. Cảnh Thịnh Hoàng (Quang Toản )1793-1802    

TRIỀU NGUYỄN THỜI KỲ ĐỘC LẬP (1802-1883)
Gia Long Hoàng đế1802-1819)
Minh Mệnh Hoàng đế1820-1840)
Thiệu Trị Hoàng đế1841-1847)
Tự Đức hoàng đế1848-1883) 

THỜI KỲ BẮT ĐẦU THUỘC PHÁP

Dục Đức
Vua 3 ngày- Cha của Thành Thái
Hiệp Hoà6/1883-11/1883)
Kiến Phúc12/1883-8/1884)
Hàm Nghi8/1884-8/1885)
Đồng Khánh10/1885-12/1888)
Thành Thái1/1889-7/1907) 
Duy Tân1907-1916) 
Khải Định1916-1925)
Bảo Đại1926-1945)

Bảng thời gian các triều đại ở Trung Quốc so sánh với lịch sử Việt Nam
(Hoàng Minh Tuyển dịch từ Web site China History)

1.Thời truyền thuyết

Theo một học giả Trung Hoa, ông Tsui Chi trong cuốn Histoire de la Chine et de la Civilisation Chinoise (Payot, 1949) thì thời khai thiên lập địa, trời và đất như lòng trắng và lòng đỏ trứng gà; rồi ông Bàn Cổ sinh ra, lấy những chất trong và sáng tạo ra trời, những chất đục và tối tạo ra đất. Mỗi ngày ông lớn lên được một trượng (khoảng 3 mét), trời cao thêm được một trượng và đất cũng dày thêm được bấy nhiêu. Ông sống được 18.000 năm, khi ông mất thì trời cao lắm và đất cũng dày lắm rồi.
Ông khóc, nước mắt ông chảy xuống trở thành sông Hoàng Hà và sông Dương Tử, ông thở thành gió, nói thì thành sấm, mắt ông đưa qua chớp lại thành chớp? Khi ông mất, xác ông rơi xuống từng mảnh thành năm ngọn núi thiêng ở Trung Hoa, tức Ngũ Nhạc (Thái Sơn, Hoa Sơn...); hai mắt ông thành mặt trời, mặt trăng, mỡ của ông chảy ra thành sông, biển và tóc ông đâm rễ trong lòng đất, thành cây cối.

2. Tam Hoàng Không rõ bao nhiêu năm sau khi Bàn Cổ chết thì có những ông vua đầu tiên của Trung Quốc; mà ba ông vua - Tam Hoàng - đó là ai thì các học giả Trung Hoa không nhất trí với nhau. Có ít nhất ba giả thuyết:


a. Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng.
b. Phục Hi, Thần Nông, 
Hoàng Đế.
c. Phục Hi, Nữ Oa, Thần Nông (theo Tsui Chi, sách đã dẫn).

3. Ngũ Đế
Sau Tam Hoàng tới Ngũ Đế. Cũng có nhiều thuyết về Ngũ Đế:
a. Thái Hạo, Hoàng Đế, Thần Nông, Thiếu Hạo, Chuyên Húc.
b. Phục Hi, Thần Nông, 
Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc.
c. Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Chí (theo Từ Hải).
d. Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu, Thuấn (theo Tsui Chi).
Thật là lộn xộn, cùng một ông, như Thần Nông, khi thì gọi là Hoàng, khi gọi là Đế, khi thì làm vua trước Hoàng Đế (2b), khi thì sau (3a).
Những ông được nhắc tới nhiều nhất là:
- Hoàng Đế, một ông được coi là tạo nên nền văn minh Trung Hoa: chữ viết, công nghệ; bà vợ ông dạy cho dân tộc Trung Hoa nuôi tằm, dệt lụa.
- Thần Nông, dạy dân cày ruộng, trồng lúa, và tìm được nhiều cây để chữa bệnh.
- Phục Hi (cũng gọi là Thái Hạo), đặt ra bát quái, căn bản của Kinh Dịch.
Nên kể thêm bà Nữ Oa, có công luyện đá ngũ sắc để vá trời khi trời sụp đổ vì những cây cột chống trời gãy.
Mấy vị đó toàn là do dân Trung Hoa tưởng tượng ra cả rồi cho họ trị vì từ khoảng – 2.900 (dấu - trước con số có nghĩa là trước kỷ nguyên Tây lịch) tới khoảng – 2.350.
Chỉ có hai ông Nghiêu, Thuấn là có thể coi bán thực bán huyền (semi-historique). Dân tộc Trung Hoa tin rằng thời đại hoàng kim của họ là thời Nghiêu, Thuấn, hai ông vua mà họ coi là bậc thánh (Nghiêu: - 2.356 – 2.255, Thuấn – 2.255 – 2.205) rất bình dân, sống trong nhà lá, ăn mặc đạm bạc, giản dị như dân, rất yêu dân và giỏi trị nước: người dân nào cũng sung sướng, đủ ăn; không có trộm cướp


600,000 trước CN: Xương đầu hoá  thạch  được khai quật ở tỉnh  Shanxi năm 1963
400,000 trước CN: Hoá thạch người vượn Băc Kinh đựoc khai quật năm 1923 ỏ  Chu Khẩu Điếm (周口店) gần Bắc Kinh
50,000-35,000 Trước CN : Đồ dùng hậu thời kỳ đồ đá  được khai quật ở hang vùng thượng Chu Khẩu Điếm 
4,000-bc3,000 trước CN: Phát hiện nơi tập trung dân cư như làng xóm trong vùng ven sông Hoàng Hà -Huang He (黃河) đồng bằng phía Bắc Trung Quốc.
3,000-bc2,000 Trước CN: Phát hiện ra các lọ, bình đất, gốm ở làng Yangshao (Ngưỡng Thiều) (仰韶) phía Tây bắc TQ và ở Lungshan (Long Sơn) (龍山) Đông Bắc, Tỉnh Sơn Đông (Shandong)
 
Huangdi-Xuanyuan (Hoàng     Đế-Hiên Viên Thị),kế vị 99 năm
 - 黃帝軒轅氏 (bc2697?-bc2599?,99)
 
Shaohan-Jintian (Thiểu Hạo-Kim Thiên Thị), kế vị 84 năm 
-少昊金天氏 (bc2598?-bc2515?,84)
 
Zhuanxu-Gaoyang (Chuyên Húc-Cao Dương Thị, kế vị 78 năm)
-顓頊高陽氏 (bc2514?-bc2437?,78)
 
Diku-Gaoxin (Đế Khốc-Cao Tân Thị, kế vị 70 năm)
-帝嚳高辛氏 (bc2436?-bc2367?,70)
 
Dizhi-Gaoxin (Đế Chí -Cao Tân Thị, kế vị 9 năm)
- 帝摯高辛氏 (bc2366?-bc2358?,9)
 
Tangyao (Đường, Nghiêu, kế vị 100 năm)
-唐堯 (bc2357?-bc2258?,100)
 
Yushun (Ngu Thuấn , kế vị 50 năm)
- 虞舜 (bc2257?-bc2208?,50)
 
Xia (Hsia) (Hạ, Vũ,Kiệt)
-  (bc2207?-bc1766?,442)





Thời gian

Triều đại
ca. 2000-1500 B.C.
Xia  (Hạ)
1700-1027 B.C.
Shang (Thương- Ân-Trụ)
1027-771 B.C.
Western Zhou Tây Chu
770-221 B.C.
Eastern Zhou (Đông Chu)
770-476 B.C. -- Spring and Autumn period(Xuân Thu chiến quốc)
475-221 B.C. -- Warring States period (Tam Quốc diễn nghĩa)
221-207 B.C.
Qin (Tần)
206 B.C.-A.D. 9
Western Han (Tây Hán)
A.D. 9-24
Xin (Wang Mang interregnum)
A.D. 25-220
Eastern Han (Đông Hán)
A.D. 220-280
Three Kingdoms (Tam Quốc)
220-265 – Wei (Nguỵ)
221-263 – Shu (Thục)
229-280 – Wu (Ngô)
A.D. 265-316
Western Jin (Tây Tấn)
A.D. 317-420

Eastern Jin (Đông Tấn)

A.D. 420-588

Southern and Northern Dynasties (Nam-Bắc triều)
420-588
Southern Dynasties
420-478 – Song (Tống)
479-501 – Qi (Tề)
502-556 – Liang (Lương)
557-588 – Chen (Trần)
386-588
Northern Dynasties
386-533 -- Northern Wei (Bắc Nguỵ)
534-549 -- Eastern Wei (Đông Nguỵ )
535-557 -- Western Wei (Tây Nguỵ)
550-577 – Northern Qi (Bắc Tề)
557-588 -- Northern Zhou (Bắc Chu)
A.D. 581-617
Sui (Tuỳ)
A.D. 618-907
Tang (Đường)
A.D. 907-960
Five Dynasties
907-923 -- Later Liang (Hậu Lương)
923-936 -- Later Tang (Hậu Đườ ng)
936-946 – Later Jin (hậu Tấn)
947-950 -- Later Han (Hậu Hán)
951-960 -- Later Zhou (Hậu Chu)
A.D. 907-979
Ten Kingdoms
A.D. 960-1279
Song (Tống)
960-1127 -- Northern Song (Bắc Tống)
1127-1279 -- Southern Song (Nam Tống)
A.D. 916-1125
Liao (Liêu)
A.D. 1038-1227
Western Xia (Tây Hạ)
A.D. 1115-1234
Jin (Tấn)
A.D. 1279-1368
Yuan (Nguyên)
A.D. 1368-1644
Ming (Minh)
A.D. 1644-1911
Qing (Thanh-Mãnchâu)




  


Sụp đổ Nhà Minh

Sự sụp đổ của nhà Minh xảy ra trong một thời gian dài và nó khởi nguồn ngay từ năm 1600 với sự xuất hiện của Mãn Châu dưới sự lãnh đạo của Nurhaci(Nỗ Nhĩ Cáp Xích). Với ưu thế pháo binh của mình, nhà Minh liên tục đẩy lùi người Mãn Châu, đặc biệt trong các năm 1623 và 1628. Tuy nhiên, họ không thể chiếm lại được quyền kiểm soát của mình đối với người Mãn Châu và cả vùng đất đó. Từ năm 1629 về sau này, nhà Minh kiệt sức với những vụ tranh giành quyền lực bên trong và những vụ tấn công ở miền bắc từ phía người Mãn Châu; họ đã chuyển sang chiến thuật đột kích nhằm tránh đối mặt với quân đội Minh trong những trận chiến lớn.
Không thể tấn công trực tiếp vào đầu não nhà Minh, người Mãn Châu chờ đợi cơ hội của mình, phát triển pháo binh của riêng họ và thành lập các liên minh. Họ có được các quan chức trong triều nhà Minh làm quân sư cho mình. Năm 1633 họ hoàn thành việc chinh phục Nội Mông, dẫn tới việc tuyển được một số lượng lớn lính Mông Cổ dưới cờ Mãn Châu và chiếm được một con đường nữa dẫn tới trung tâm đế chế Minh.
Tới năm 1636 vua Mãn Châu là Hoàng Thái Cực đã đủ tự tin để tuyên bố thành lập đế quốc nhà Thanh tại Thẩm Dương, vùng đất đã bị người Mãn Châu chiếm từ năm 1621, và lấy đế hiệu là Sùng Đức. Cuối năm 1637 đồng minh truyền thống của nhà Minh là Triều Tiên bị đánh bại và chinh phục bởi đội quân mạnh mẽ với 10 vạn người của Mãn Châu, và Triều Tiên chấm dứt công nhận nhà Minh.
Ngày 26 tháng 51644, Bắc Kinh rơi vào tay quân khởi nghĩa do Lý Tự Thành lãnh đạo. Nắm lấy cơ hội này, người Mãn Châu vượt qua Vạn lý trường thànhsau khi viên tướng giữ biên giới của nhà Minh là Ngô Tam Quế mở cổng thành tại Sơn Hải quan, và nhanh chóng đánh bại, lật đổ triều đình Đại Thuận với thời gian tồn tại ngắn ngủi 40 ngày của Lý Tự Thành. Dù đã mất Bắc Kinh (nơi Chu Nguyên Chương từng cho là không nên lựa chọn làm thủ đô đế chế) và hoàng đế qua đời, quyền lực của nhà Minh vẫn chưa bị tiêu diệt hẳn. Nam Kinh, Phúc Kiến, Quảng Đông, Sơn Tây và Vân Nam trên thực tế đều là những pháo đài mạnh cho sự chống cự của nhà Minh. Tuy nhiên, việc mất chính quyền trung ương khiến nhiều kẻ ngấp nghé ngôi báu và vì vậy họ không thể liên kết với nhau. Tới năm 1662, từng pháo đài một bị người Thanh đánh bại, và những hy vọng cuối cùng cho sự hồi phục của nhà Minh mất đi cùng với hoàng đế Vĩnh Lịch Chu Do Lang.
Các Hoàng đế triều Minh
Tên riêng
Năm cai trị
Tên
thường dùng nhất
Chu Nguyên Chương朱元璋
Cao Đế高帝
Thái Tổ太祖
Hồng Vũ洪武
Chu Doãn Văn朱允炆
Huệ Đế惠帝
Không có²
Kiến Văn建文
Chu Đệ /Lệ朱棣
Văn Đế文帝
Thành Tổ, 成祖 hay
Thái Tông, 
太宗
Vĩnh Lạc永樂
Chu Cao Xí朱高熾
Chiêu Đế昭帝
Nhân Tông仁宗
Hồng Hi洪熙
Chu Chiêm Cơ朱瞻基
Chương Đế章帝
Tuyên Tông宣宗
Tuyên Đức宣德
Chu Kỳ Trấn朱祁鎮
Duệ Đế睿帝
Anh Tông英宗
Chính Thống, 正統
1436-1449;
Thiên Thuận, 
天順
1457-1464
Chu Kỳ Ngọc朱祁鈺
Cảnh Đế景帝
Đại Tông代宗
Cảnh Thái景泰
Chu Kiến Thâm朱見深
Thuần Đế純帝
Hiến Tông憲宗
Thành Hoá成化
Chu Hữu /Hựu Đường朱祐樘
Kính Đế敬帝
Hiếu Tông孝宗
Hoằng Trị弘治
Chu Hậu Chiếu朱厚照
Nghị Đế毅帝
Vũ Tông武宗
Chính Đức正德
Chu Hậu Thông朱厚熜
Túc Đế肅帝
Thế Tông世宗
Gia Tĩnh嘉靖
Chu Tái /Tải Hậu朱載垕
Trang Đế莊帝
Mục Tông穆宗
Long Khánh隆慶
Chu Dực Quân朱翊鈞
Hiển Đế顯帝
Thần Tông神宗
Vạn Lịch萬曆
Chu Thường Lạc朱常洛
Trinh Đế貞帝
Quang Tông光宗
Thái Xương泰昌
Chu Do Hiệu /Giáo朱由校
Triết Đế悊帝
Hy Tông熹宗
Thiên Khải天啟
Chu Do Kiểm朱由檢
Trang Liệt Mẫn莊烈愍
Tư Tông思宗
Sùng Trinh崇禎
1 Vì thụy hiệu và miếu hiệu thường trùng lặp đối với hoàng đế ở các triều đại khác nhau, thường chúng được gắn tên triều đại ở trước, trong trường hợp này là Minh để tránh nhầm lẫn. Ví dụ, hoàng đế Hồng Vũ thường được gọi là Minh Thái Tổ.
2 Hoàng đế Vĩnh Lạc chiếm ngôi của cháu trai là Kiến Văn, theo chính sử Kiến Văn bị coi là chết trong một vụ cháy ở hoàng cung nhưng có ý kiến nghi ngờ rằng ông đã bỏ trốn để sống ẩn dật. Vĩnh Lạc xóa bỏ mọi điều liên quan tới triều đại của cháu và không đặt miếu hiệu cho Kiến Văn. Hoàng đế Vĩnh Lạc cũng chính là người cho quân sang đô hộ Việt Nam (1407-1427).
3 Sau khi nghe những lời cố vấn của các hoạn quan, Hoàng đế Chính Thống đã đích thân chỉ huy một chiến dịch chống lại người Mông Cổ năm 1449 và bị bắt giữ. Em trai ông, Hoàng đế Cảnh Thái lên ngôi và vì thế việc bắt giữ con tin không còn giá trị gì nữa, người Mông Cổ thả Chính Thống và ông quay về nước sống trong sự ẩn dật. Tuy nhiên, Chính Thống vẫn chiếm lại được ngôi báu sau khi em ông ta ốm nặng, lựa chọn tên giai đoạn cai trị sau này là Thiên Thuận.


Các Hoàng đế triều Nam Minh
Tên riêng
Năm cai trị
Tên
thường gọi nhất
Chu Do Tung朱由崧
An Tông安宗
Hoằng Quang弘光
Chu Duật Kiện朱聿鍵
Thiệu Tông紹宗
Long Vũ隆武
Chu Thường Phương朱常淓
Không có
Không có,
nhưng thỉnh thoảng được gọi là

Lộ Vương Lâm Quốc
潞王臨國
Chu Dĩ Hải朱以海
Không có
Không có,
nhưng thỉnh thoảng được gọi là

Lỗ Vương Lâm Quốc
魯王臨國
Chu Duật [Kim Việt]朱聿[金粵]
Không có
Thiệu Vũ紹武
Chu Do Lang朱由榔
Không có
Vĩnh Lịch永曆

Nhà Thanh
Nhà Thanh không phải là một triều đại do người Hán, là dân tộc chiếm đa số ở Trung Quốc, mà do người Mãn Châu thiểu số thành lập. Vốn là những người du mục bán khai, người Mãn Châu dần chiếm ưu thế tại vùng hiện ở phía đông bắc Trung Quốc. Quốc gia Mãn Châu được Nurhaci (Nỗ Nhĩ Cáp Xích) thành lập vào đầu thế kỷ 17. Ban đầu chỉ là một nước chư hầu của nhà Minh, ông tự tuyên bố mình là hoàng đế của nước Hậu Kim năm 1609. Cùng năm ấy, ông phát triển các nguồn tài nguyên kinh tế, con người của đất nước cũng như kỹ thuật bằng cách thu nhận những người Hán sống tại vùng Mãn Châu. Năm 1625, Nurhaci lập thủ đô tại Thẩm Dương (tiếng Mãn Châu: Mukden), nhưng năm sau ông phải chịu một thất bại quân sự lớn đầu tiên trước một vị tướng nhà Minh là Viên Sùng Hoán. Nurhaci chết năm đó. Một trong những thành tựu lớn nhất của ông là việc tạo lập hệ thống Bát Kỳ (Eight Banner system), theo đó mọi người dân Mãn Châu đều thuộc một trong tám "Kỳ", đó vừa là các đơn vị dân sự vừa mang tính chất quân sự. Các Kỳ được đặt tên như vậy bởi vì mỗi nhóm được phân biệt bởi một lá cờ khác nhau.
Người kế tục Nurhaci, Huang Taiji (Hoàng Thái Cực, một số tài liệu chép là Abahai), tiếp tục tiến hành công việc dựa trên các nền móng được người cha để lại, sáp nhập các kỳ của người Hán đầu tiên vào quân đội của mình. Hoàng Thái Cực cũng chấp nhận việc áp dụng nhiều cơ cấu chính trị kiểu nhà Minh vào đất nước mình, nhưng luôn giữ ưu thế của người Mãn Châu trong các cơ cấu đó thông qua một hệ thống định mức phân bổ. Khi Lingdan Khan, vị đại hãn cuối cùng của người Mông Cổ, chết trên đường tới Tây Tạng năm 1634, con trai ông Ejei đã đầu hàng người Mãn Châu và trao lại đại ấn của Hoàng đế Nguyên cho Hoàng Thái Cực. Năm 1636 Hoàng Thái Cực đổi tên nước thành Thanh, có nghĩa là thanh khiết, biểu hiện những tham vọng đối với vùng Mãn Châu. Cái tên Thanh được lựa chọn bởi vì tên của nhà Minh () được cấu thành từ các ký hiệu của chữ nhật (, mặt trời) và nguyệt (, mặt trăng), đều liên quan tới hỏa mệnh. Chữ Thanh () được cấu thành từ chữ căn bản là thuỷ (, nước) và từ chỉ màu xanh (), cả hai đều là mệnh thuỷ. Trong một loạt những chiến dịch quân sự, Hoàng Thái Cực đã khuất phục được vùng Nội Mông và Triều Tiên trước khi tiếp tục chiếm quyền kiểm soát vùng Hắc Long Giang, nằm gần sông Amur.
[sửa] Tuyên bố Thiên mệnh
Bắc Kinh đã bị một liên minh những lực lượng nổi loạn do Lý Tự Thành cầm đầu vào cướp phá. Nhà Minh chính thức kết thúc khi Minh Sùng Trinh Chu Do Kiểm, vị Hoàng đế cuối cùng của nhà Minh treo cổ tự tử trên một cành cây tại Môi Sơn cạnh Tử Cấm Thành. Sau khi chiếm Bắc Kinh vào tháng 4 năm 1644,Lý Tự Thành dẫn đầu một đội quân mạnh gồm 600.000 người chiến đấu với Ngô Tam Quế, vị tướng chỉ huy lực lượng đồn trú 100.000 lính bảo vệ Sơn Hải Quan (山海關) của nhà Minh. Sơn Hải Quan là cửa ải có vị trí trọng yếu ở phía đông bắc Vạn lý trường thành cách Bắc Kinh năm mươi dặm về phía đông bắc và trong nhiều năm lực lượng đồn trú tại đây luôn phải chiến đấu ngăn chặn người Mãn Châu bên ngoài thủ đô Bắc Kinh. Bị kẹt giữa hai kẻ thù, Ngô Tam Quế đã quyết định đánh liều vận may với người Mãn Châu và liên minh với hoàng tử Drogon (Đa Nhĩ Cổn), khi ấy đang làm nhiếp chính cho Hoàng đế Thuận Trị mới lên sáu, con trai của Hoàng Thái Cực mới chết năm trước.
Liên minh này đánh bại các lực lượng nổi loạn của Lý Tự Thành trong trận chiến ngày 27 tháng 51644. Quá trình tiêu diệt các lực lượng trung thành với nhà Minh, những kẻ nhòm ngó ngôi báu và những kẻ phiến loạn khác kéo dài thêm mười bảy năm nữa. Vị vua cuối cùng của nhà Minh, Vĩnh Lịch, chạy trốn tới Miến Điện, tức Myanma hiện nay, nhưng bị bắt và giao lại cho lực lượng viễn chinh của nhà Thanh do Ngô Tam Quế cầm đầu. Ông bị hành quyết tại tỉnh Vân Nam đầu năm 1662.
[sửa] Khang Hi và sự củng cố quyền lực
Hình:Portrait of the Kangxi Emperor in Court Dress.jpg

Hoàng đế Khang Hi (khoảng 1662 - 1722)
Hoàng đế Khang Hi (khoảng 1662 - 1722) lên ngôi khi mới tám tuổi. Trong những năm cầm quyền đầu tiên ông được bà của mình là Thái hoàng thái hậu Hiếu Trang giữ quyền nhiếp chính trợ giúp rất nhiều.
Người Mãn Châu nhận ra rằng việc kiểm soát "Thiên Mệnh" là một nhiệm vụ hết sức to lớn. Sự rộng lớn của lãnh thổ Trung Quốc đồng nghĩa với việc triều đình chỉ có đủ quân đội để đồn trú tại những thành phố chính và xương sống của mạng lưới phòng ngự dựa chủ yếu vào những người lính nhà Minh đã đầu hàng.
Hơn nữa, các tướng lĩnh nhà Minh đã đầu hàng trước đó cũng được lựa chọn theo mức độ đóng góp vào việc thành lập nhà Thanh, được phong tước trở thành các lãnh chúa phong kiến (藩王- phiên vương), và được quyền cai quản những vùng đất rộng lớn ở phía nam Trung Quốc. Người đứng đầu số đó làNgô Tam Quế (吳三桂), được trao các tỉnh Vân Nam và Quý Châu, trong khi các vị tướng khác như Thượng Khả Hỉ (尚可喜) và Cảnh Trọng Minh (耿仲明) được giao cai quản các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến. Ba người này được người Trung Quốc gọi chung bằng cái tên Tam Phiên.
Sau một thời gian, ba vị lãnh chúa này và những vùng đất đai của họ cai quản dần trở thành hình thức tự trị. Cuối cùng, vào năm 1673, Thượng Khả Hỉ thỉnh cầu Khang Hi, bày tỏ ước vọng muốn được trở về quê hương tại tỉnh Liêu Đông (遼東) và chỉ định con trai làm người kế nhiệm. Vị hoàng đế trẻ cho phép ông ta về nghỉ nhưng từ chối trao chức vụ cho người con trai. Trước sự kiện đó, hai vị tướng kia cũng quyết định xin về hưu để thử phản ứng của Khang Hi, cho rằng ông ta sẽ không dám liều xúc phạm đến họ. Hành động này mang lại kết quả trái ngược với mong đợi của họ khi vị hoàng đế trẻ tuổi lừa phỉnh họ bằng cách chấp nhận các yêu cầu và đoạt lại ba vùng đất đó cho triều đình.
Thấy mình bị tước đoạt quyền lực, Ngô Tam Quế cho rằng ông ta không còn lựa chọn nào khác ngoài cách làm loạn. Ngô Tam Quyến cùng Cảnh Trọng Minh và con trai Thượng Khả Hỉ là Thượng Chi Tín (尚之信) thành lập liên minh. Cuộc nổi dậy diễn ra sau đó kéo dài tám năm. Ở thời phát triển mạnh nhất, lực lượng nổi dậy đã tìm cách mở rộng tầm kiểm soát của mình về hướng bắc tới tận sông Trường Giang (長江). Dù vậy, cuối cùng triều đình nhà Thanh tiêu diệt được cuộc nổi dậy và kiểm soát được toàn bộ miền nam Trung Quốc. Trong lịch sử Trung Quốc, sự kiện này được gọi là Loạn Tam Phiên.
Để củng cố đế chế, Khang Hi đích thân chỉ huy một loạt các chiến dịch quân sự tấn công Tây Tạng, người Dzungars, và sau này là cả nước Nga. Ông dàn xếp một cuộc hôn nhân giữa con gái mình với vị Hãn Mông Cổ là Gordhun (Chuẩn Cát Nhĩ) nhằm tránh một cuộc xung đột quân sự. Các chiến dịch quân sự của Gordhun chống lại nhà Thanh đã chấm dứt, giúp tăng cường sức mạnh đế chế. Đài Loan cũng bị các lực lượng nhà Thanh chinh phục năm 1683 từ tay con trai của Trịnh Kinh là Trịnh Khắc Sảng (鄭克塽,) (cháu nội Trịnh Thành Công, người đã đoạt lại quyền kiểm soát Đài Loan từ tay thực dân Hà Lan). Tới cuốithế kỷ 17, Trung Quốc đạt tới đỉnh cao quyền lực của mình kể từ thời đầu nhà Minh.
Khang Hi cũng cho phép nhiều nhà truyền giáo thuộc các Giáo hội Thiên chúa tới Trung Quốc để truyền đạo. Dù họ không đạt được mục đích cải đạo cho đa số dân Trung Quốc, Khang Hi vẫn cho họ sống yên ổn tại Bắc Kinh.

Lăng Hoàng đế Thủy tổ dân tộc Trung Hoa - 11/1/2006 5h:0
"Trung Hoa khai quốc 5 ngàn năm cũ,
Tổ tông truyền nối từ Hiên Viên đất Thần Châu.
Làm xe chỉ Nam, bình giặc dữ,
Văn minh thế giới, có ta đi đầu..."
Tôn Trung Sơn (Văn tế lăng Hoàng đế)
Từ chân núi, ta thấy những bậc đá vươn lên, ngoằn nghoèo, khi ẩn khi hiện trong những rừng bách xanh tươi. Trên những bậc đá ấy không biết đã in bao dấu chân người trở về đây bái ngưỡng tổ tiên. Khi lên hết những bậc đá, sẽ đi qua một con đường "Hoàng Lăng cổ đạo" dưới hai hàng cây bách cổ thụ cao vút, sẽ gặp một tấm đá hình chữ nhật trông thẳng với dòng chữ "Văn võ quan viên tới đây xuống ngựa", và không khí bỗng trở nên trang nghiêm hơn. Đi thêm khoảng 200m nước, qua một ngôi miếu nhỏ, sẽ nhìn thấy lăng Hoàng đế cao 3,6m; chu vi 48m, có xây tường vây bằng gạch Thanh cao 2m, trên lăng dây cheo chằng chịt, trước lăng, dựng một phiến đá lớn với bốn chữ: "Hoàng Đế Lăng".
Đây là một đình tế cổ lão nhất ở phương Đông, và cũng là một lăng mộ Hoàng đế giản dị nhất trên đại lục Trung Quốc.
Lăng Hoàng đế là thế giới của cây bách. Những người già ở đây cho biết, từ Đồng Xuyên ngược lên phía Bắc, hàng mấy trăm dặm đều là núi trống đồi trọc, nhưng riêng ở Kiều Sơn thì lại có điều lạ là rừng bách bạt ngàn lớn nhất trong toàn quốc, số lượng lên tới hơn 8 vạn cây. Rừng bách này như dùng để che phủ riêng cho lăng tẩm Hoàng đế. Ở đền Hiên Viên dưới chân núi, có một cây bách lớn nhất do "chính tay Hoàng Đế trồng", cao tới hơn 19m, và phải 8 người lớn mới ôm xuể, tuổi của nó phải trên 5000 năm, đây có thể là "cây tổ" của những cây bách trên thế giới.
Mảnh đất lăng mộ thủy tổ của các dân tộc Trung Hoa được mọi người Trung Hoa rất trân trọng. Có người cho rằng, một con rồng lớn đã từ đây bay lên và biến mình vào không trung: bởi lẽ Bàn Long Cương là chỗ  tựa, và bên trái có Long Loan, bên phải có Phương Lĩnh, và lăng Hoàng đế được đặt ở trung tâm của lưỡi rồng, giống như rồng ngậm viên trân châu, một nửa viên lộ thiên, một nửa viên vùi trong lớp đất vàng (hoàng thổ) tức là "Long châu tại hàm". Còn một điều thú vị nữa là: hai bên lăng cách khoảng 30m mỗi bên có một cây bách cao tới 8,9m; chu vi gốc khoảng 2m, hai cây bách này cũng có khoảng nghìn tuổi và vị trí đó lại ở đúng vào vị trí của cặp sừng rồng, nên người ta gọi nó là cây bách sừng rồng.
Kiều Sơn cao 944m, ba mặt có nước vây quanh, và bên kia dòng nước ngăn đó là Ấn Đài Hợp Sơn (cao 942,6m) vọng về, giống như một ức Thái Cực đồ, hai ngọn núi ấy lại giống như đôi mắt song ngư trong Thái Cực đồ vậy. Và đài tiền Hán Vũ lại giống như một con thuyền nhỏ trong biển biếc và đã dừng ở đấy một cách trang nghiêm, lặng lẽ 5 ngàn năm.
Hoàng đế là một vị đế đầu tiên thống nhất được cả dân tộc Trung Hoa, là thủy tổ chung của 65 dân tộc Hoa Hạ, đồng thời cũng là thủy tổ của hàng tỷ người Hoa ở trong nước và ngoài nước.
Trong đền Hiên Viên có tượng đá của Hoàng Đế nổi tiếng do đền Hán Vũ Lương cung tiến. Tuy tướng mạo, hình thể cũng chẳng lấy gì làm cao to, anh tuấn nhưng đó lại là người tạo ra sự rực rỡ huy hoàng, là người lãnh tụ vĩ đại, lãnh đạo liên minh các bộ lạc với đầy vẻ thuần hậu chất phác như một người nông dân. Và một lẽ Hoàng đế là người, chứ không phải là Thần, Thánh. Người do tinh huyết tạo nên do cha mẹ sinh ra, có thân thể xác thịt do trời đât nuôi dưỡng. Nền văn hóa Trung Hoa được bắt đầu từ thời đại Hoàng đế, và qua 5 ngàn năm được đất trời gọt rửa, nay đã trở thành một trong những nền văn hóa ưu tú của thế giới.
Trong đền Hiên Viên có rất nhiều bia đá, đều là những thủ bút của nhiều danh gia trong các thời đại, một niềm ca ngợi công đức của tổ tiên. Riêng bia đá khắc văn tế của các triều đại cũng đã lên hơn 700 tấm. Trong đó có hai tấm bia mới một tấm khắc bài văn tế của Mao Trạch Đông đại diện cho Đảng Cộng Sản và Chính phủ Xô Viết năm 1973, tấm thứ hai là bút tích của Tưởng Giới Thạch, viết năm 1942, với ba chữ kính đề: "Hoàng Đế Lăng". Hai con người có vị trí chính trị lớn lao này, với hai chính kiến khác nhau, nhưng đứng trước vị Hoàng đế thủy tổ đã có cùng một lòng kính mộ giống nhau sẽ mãi mãi là cảnh quan thiên nhiên vĩ đại của Trung Hoa và nhân loại.
Rừng bách xanh tươi của Kiều Sơn che phủ lăng Hoàng Đế sẽ mãi mãi là cảnh quan thiên nhiên vĩ đại của Trung Hoa và nhân loại.

1 nhận xét:

  1. Play Live Roulette at Goyang Casino
    Play live roulette for fun, with real roulette 룰렛 테이블 on the casino floor. Start 레드 벨벳 러시안 룰렛 your 스포츠사이트 journey 바카라 검증사이트 as you can at 벳인포승무패계산기 Goyang Casino. Enjoy live roulette and other

    Trả lờiXóa